Trang chủ
 
Thành viên
 
Thống kê
 
Nội quy
 
 
 
 
THÀNH VIÊN
ĐĂNG KÝ THÀNH VIÊN
THÔNG TIN TIỆN ÍCH
Xem tử vi trọn đời
Xem Quái số của bạn
Xem cung tuổi vợ chồng
Lịch vạn niên 2020
Đổi ngày dương ra âm
Tra cứu sao chiếu mệnh
Cân xương tính số
Xem hướng nhà
Xem Sim số đẹp
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Hôm nay: 4,013
Tất cả: 4,081,006
 
 
CHÂN LÝ VẠN VẬT-CHÂN LÝ GIÁC NGỘ-NHÂN QUẢ
1. Học Thuyết
2. Áp dụng thực tiễn
Nội dung tin đăng Trả lời bài này
SÁCH HÀNH LỄ DƯỚI ÁNH SÁNG PHẬT PHÁP-NĂNG LƯỢNG VŨ TRỤ (ĐẦY ĐỦ, CHI TIẾT) (Tác giả: Hoàng Văn Trường-Nhất Nam-Nhật Sư Hoàn Đạo)

File Download
images/vanban/Hanh Le duoi anh sang Phat Phap.pdf


MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU

PHẦN I: GIỚI THIỆU CÁC LÝ THUYẾT, CÁC CHÂN LÝ, CÁC CẢNH GIỚI, CÁC BÀI THẦN CHÚ

1. Học Thuyết Tam hợp

2. Sự hình thành chư vị Thần, Thánh, Bồ Tát, Phật

3.  Mức độ phá hoại sự sống khắp vũ trụ của Ngã quỷ

4.  Luật nhân quả và luật giác ngộ

5. Toàn cảnh cõi trời Địa Phủ và hành trình luân hồi sau khi thoát tục cõi trần

6. Bài thần chú Tịnh Độ Tâm

7. Bài thần chú Nhật Sư Tâm Chú

8. Bài thần chú Địa Phật Tâm Chú

9. Bài thần chú Bát Không Phật Đạo


PHẦN II: NGHI LỄ CHƯ THẦN, THÁNH NHÂN, PHẬT, GIA TIÊN, ĐIỀN THỔ, SỰ VIỆC, CON NGƯỜI

BÀI 1: BÀI LỄ MÙNG 1 VÀ NGÀY 15 HÀNG THÁNG TRONG NHÀ

BÀI 2: BÀI LỄ NGÀY GIỖ CỦA VONG LINH GIA TIÊN DÒNG HỌ

BÀI 3: BÀI LỄ CÚNG CHÚNG SINH CÔ HỒN XUNG QUANH ĐIỀN THỔ

BÀI 4: BÀI LỄ XÁ TỘI VONG LINH THÁNG 7 ÂM LỊCH

BÀI 5: BÀI LỄ TẠ ĐIỀN THỔ CUỐI NĂM (NHÀ Ở, NHÀ MÁY, NƠI SẢN XUẤT, NƠI KINH DOANH)

BÀI 6: BÀI LỄ NGÀY 23 THÁNG 12 ÂM LỊCH (TIỄN TÁO QUÂN VỀ TRỜI) VÀ BAO SÁI CHÂN NHANG (TỈA VÀ HÓA CHÂN NHANG)

BÀI 7: BÀI LỄ TẤT NIÊN NGÀY CUỐI NĂM (30 TẾT) TRONG NHÀ

BÀI 8: BÀI LỄ ĐÊM GIAO THỪA TẠI NHÀ, NƠI KINH DOANH

BÀI 9: BÀI LỄ NGÀY MÙNG 1 TẾT TRONG NHÀ, NƠI KINH DOANH

BÀI 10: BÀI LỄ NGÀY MÙNG 2 TẾT TRONG NHÀ, NƠI KINH DOANH

BÀI 11: BÀI LỄ NGÀY MÙNG 3 TẾT TRONG NHÀ, NƠI KINH DOANH

BÀI 12: BÀI LỄ HÓA TIỀN VÀNG NGÀY 7 TẾT TRONG NHÀ, NƠI KINH DOANH

BÀI 13: BÀI LỄ TIẾN THẦN NGÀY 15 THÁNG GIÊNG (NHÀ Ở, NHÀ MÁY, NƠI SẢN XUẤT, NƠI KINH DOANH)

BÀI 14: BÀI LỄ BÁO CÁO GIA TIÊN DÒNG HỌ KHI VỢ, CON CÁI SINH EM BÉ

BÀI 15: BÀI LỄ ĐẦY THÁNG CHÁU BÉ MỚI SINH

BÀI 16: BÀI LỄ SÁM TÂM TẠI CHÙA

BÀI 17: BÀI LỄ CỬA CHÙA NGÀY MÙNG 1, 15 HÀNG THÁNG (HOẶC BẤT KỲ NGÀY NÀO TRONG NĂM)

BÀI 18: BÀI LỄ CỬA ĐỀN THỜ THÁNH: MẪU, QUAN, HOÀNG, CHÚA, CÔ, CẬU

BÀI 19: BÀI LỄ PHÁ DỠ NHÀ CŨ, PHÁ DỠ CÔNG TRÌNH

BÀI 20: BÀI LỄ ĐỘNG THỔ XÂY DỰNG TRẠCH NHÀ/ CÔNG TRÌNH

BÀI 21: BÀI LỄ ĐỔ MÁI, CẤT NÓC (CÁC TẦNG VÀ TẦNG MÁI) XÂY DỰNG TRẠCH NHÀ/ CÔNG TRÌNH

BÀI 22: BÀI LỄ BỒI HOÀN LONG MẠCH TRẠCH NHÀ/ CÔNG TRÌNH

BÀI 23: BÀI LỄ LẬP THỜ (LẬP BÁT NHANG THỜ) NHẬP TRẠCH TRẠCH NHÀ MỚI

BÀI 24: BÀI LỄ TÁI TẠO LẬP THỜ (LẬP THỜ LẠI LÔ NHANG) ĐỐI VỚI NHỮNG NGÔI NHÀ ĐÃ Ở HOẶC MUỐN LẬP THỜ LẠI CHO ĐÚNG ĐẠO

BÀI 25: BÀI LỄ LẬP THỜ (LẬP BÁT NHANG THỜ) KHAI TRƯƠNG NHÀ MÁY, XƯỞNG, CỬA HÀNG KINH DOANH

BÀI 26: BÀI LỄ THẦN TÀI HÀNG NGÀY

BÀI 27: BÀI LỄ LẬP THỜ BAN THỜ PHẬT, BỒ TÁT TẠI NHÀ

 

PHẦN III: NGHI LỄ CHO NGƯỜI THOÁT TỤC CÕI TRẦN (CHẾT), THỔ TÁNG, HỎA TÁNG, CẢI TÁNG MỒ MẢ, GIA TIÊN ĐỊA PHỦ

I. NHỮNG LÝ GIẢI VỀ VONG LINH, GIA TIÊN ĐỊA PHỦ

1.Tại sao phải quan tâm âm phần và gia tiên dòng họ dòng tộc địa phủ

2. Trí tuệ của vong linh sau khi thoát tục cõi trần nhân gian

3.Thổ táng hay hỏa táng cho người thoát tục cõi trần (chết)

4.Sự thật về trùng tang hay còn gọi là chết trùng, trấn yểm vong và trấn yểm mộ đúng hay sai

5.Việc gọi hồn nhập phan, nhập quan, nhập mộ như thế nào là đúng

6.Những lưu ý tuyệt đối không làm khi xử lý tang lễ hay cải táng

II.CÁC BƯỚC THỰC HIỆN NGHI LỄ CHO NGƯỜI THOÁT TỤC (CHẾT) TRONG TRƯỜNG HỢP HỎA TÁNG TỪ LÚC THOÁT TỤC CHO ĐẾN KHI NHẬP MỘ XONG.

BÀI 1: BÀI LỄ BÁO CÁO GIA TIÊN, NGÀI NGUYÊN LINH ĐỊA PHẬT (DIÊM VƯƠNG) TIẾP DẪN VONG LINH THOÁT TỤC VỀ ĐỊA PHỦ ĐÚNG ĐẠO

BÀI 2: BÀI LỄ ĐỘNG THỔ ĐÀO HUYỆT MỘ TẠI NGHĨA TRANG CHUẨN BỊ CHO TANG LỄ

BÀI 3: BÀI LỄ THIẾT NHẬP QUAN (NHẬP CHỮ NHÂN THOÁT TỤC CÕI TRẦN VÀO QUAN TÀI)

BÀI 4: BÀI LỄ DI QUAN (TỪ NHÀ Ở ĐẾN NHÀ HÓA THÂN HOẶC TỪ NHÀ TANG LỄ ĐẾN NHÀ HÓA THÂN)

BÀI 5: BÀI LỄ TIẾP NHẬN QUAN CỦA VONG LINH TẠI NHÀ HÓA THÂN

BÀI 6: BÀI LỄ DI QUAN TỪ NHÀ HÓA THÂN ĐẾN NGHĨA TRANG ĐỂ THỔ TÁNG

BÀI 7: BÀI LỄ HẠ QUAN VÀ NHẬP MỘ VONG LINH TẠI ĐẤT NGHĨA TRANG

III. CÁC BƯỚC THỰC THIỆN NGHI LỄ CHO NGƯỜI THOÁT TỤC  (CHẾT) TRONG TRƯỜNG HỢP THỔ TÁNG TỪ LÚC THOÁT TỤC CHO ĐẾN KHI NHẬP MỘ XONG

BÀI 1: BÀI LỄ BÁO CÁO GIA TIÊN, NGÀI NGUYÊN LINH ĐỊA PHẬT (DIÊM VƯƠNG) TIẾP DẪN VONG LINH THOÁT TỤC VỀ ĐỊA PHỦ ĐÚNG ĐẠO

BÀI 2: BÀI LỄ ĐỘNG THỔ ĐÀO HUYỆT MỘ TẠI NGHĨA TRANG CHUẨN BỊ CHO TANG LỄ

BÀI 3: BÀI LỄ THIẾT NHẬP QUAN (NHẬP CHỮ NHÂN THOÁT TỤC CÕI TRẦN VÀO QUAN TÀI)

BÀI 4: BÀI LỄ DI QUAN TỪ NHÀ ĐẾN NGHĨA TRANG ĐỂ THỔ TÁNG

BÀI 5: BÀI LỄ HẠ QUAN VÀ NHẬP MỘ VONG LINH TẠI ĐẤT NGHĨA TRANG

IV.CÁC BƯỚC THỰC HIỆN NGHI LỄ CHO VONG LINH TỪ LÚC SAU KHI NHẬP MỘ CHO ĐẾN NGÀY 49

BÀI 1: BÀI LỄ THIẾT LẬP BÁT NHANG THỜ VONG LINH TẠI NHÀ

BÀI 2: BÀI LỄ ĐỊNH TÂM VONG LINH TRONG SỰ ĐỊNH VỊ THIÊN CƠ TẠI CỬA CHÙA HOẶC TẠI SÂN NHÀ

BÀI 3: BÀI LỄ CÚNG CƠM VONG LINH HÀNG NGÀY TRONG VÒNG 49 NGÀY

BÀI 4: BÀI LỄ PHỔ ĐỘ VONG LINH TRƯỚC 49 NGÀY SAU KHI MẤT

BÀI 5: BÀI LỄ 49 NGÀY VONG LINH VÀ THIẾT NHẬP VONG LINH VÀO BÁT NHANG HỘI ĐỒNG GIA TIÊN, HÓA BAN THỜ VONG LINH

V.NGHI LỄ  THỰC HIỆN PHỔ ĐỘ VONG LINH GIA TIÊN DÒNG HỌ ĐỊA PHỦ GIÚP GIẢM NGHIỆP ÂM VÀ GIA TĂNG ÂM ĐỨC DÒNG HỌ

VI.CÁC BƯỚC THỰC HIỆN NGHI LỄ CẢI TÁNG/ DI CHUYỂN MỘ  PHẦN

BÀI 1: BÀI LỄ BÁO CÁO GIA TIÊN, NGÀI NGUYÊN LINH ĐỊA PHẬT (DIÊM VƯƠNG) VỀ VIỆC CẢI TÁNG CHO VONG LINH

BÀI 2: BÀI LỄ ĐỘNG THỔ ĐÀO HUYỆT MỘ MỚI

BÀI 3: BÀI LỄ ĐỘNG THỔ PHÁ NẤM CŨ

BÀI 4: BÀI LỄ LẬT VÁN THIÊN

BÀI 5: THỦ PHÁP THIẾT NHẬP VONG LINH NHẬP TIỂU MỚI

BÀI 6: BÀI LỄ DI TIỂU (QUÁCH) TẠI NƠI MỘ CŨ ĐẾN NƠI MỘ MỚI

BÀI 7: BÀI LỄ HẠ TIỂU VÀ NHẬP MỘ VONG LINH TẠI ĐẤT NGHĨA TRANG MỚI

 

PHẦN IV: CÁC PHƯƠNG PHÁP HÓA GIẢI ĐIỆN THỜ, QUỶ, TINH TÀ, ÂM BINH, ĐIỀN THỔ, MỒ MẢ, BÙA CHÚ, TRẤN YỂM VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRONG DÂN GIAN.

Bài 1: HÓA GIẢI ÂM ĐẤT (QUỶ, TINH TÀ, ÂM BINH, CÔ HỒN) NHÀ Ở, CÔNG TY, VĂN PHÒNG, NHÀ MÁY, XƯỞNG

Bài 2: HÓA GIẢI ÂM KHÍ NHIỄM TRONG NGƯỜI

Bài 3: HÓA GIẢI ÂM KHÍ TẠI CÂY CỔ THỤ/ CÂY TO (DÙ CÓ CHẶT HẠ HAY KHÔNG CHẶT HẠ)

Bài 4: HÓA GIẢI ÂM KHÍ TẠI GIẾNG CỔ, GIẾNG ĐÀO; THỦ TỤC LẤP GIẾNG; BỒI HOÀN LONG MẠCH SAU KHI LẤP GIẾNG

Bài 5: HÓA GIẢI ĐIỆN THỜ (CÂY HƯƠNG, MIẾU THỜ, BAN THỜ), ÂM BINH  ĐỂ THÔI KHÔNG THỜ CÚNG NỮA

Bài 6: HÓA GIẢI NGƯỜI BỊ YỂM BÙA, TINH NHẬP, VONG NHẬP

Bài 7: HÓA GIẢI BÙA

Bài 8: HÓA GIẢI TRẺ KHÓC ĐÊM

Bài 9: HÓA GIẢI ÂM ĐẤT Ở CHÙA, ĐÌNH, ĐỀN, MIẾU

Bài 10: HÓA GIẢI CUNG ĐƯỜNG HAY XẢY RA TAI NẠN CHẾT NGƯỜI

Bài 11: HÓA GIẢI MỘ PHẦN BỊ ĐỘNG VÀ NẠP KHÍ MỘ PHẦN

Bài 12: HÓA GIẢI PHẦN MỘ (TIỂU, QUAN) DƯỚI NỀN ĐẤT KHI ĐANG THI CÔNG NỀN MÓNG CÔNG TRÌNH

Bài 13: CHUYỂN MỘ PHẦN VÔ DANH

Bài 14: NGÀY GIỜ TỐT THEO LỊCH LÀM VIỆC CỦA CÕI TRỜI ĐỊA PHỦ VÀ CÕI TRỜI CHƯ THẦN (BAN GIÁM SÁT HỘ THẦN)

 

Đăng ngày: 2/1/2020 9:01:04 PM
Lần xem: 2867 lần - Phản hồi: 1
Người đăng: buiquangchinh77 - Mã số ID: 22
Email: [email protected]
buiquangchinh77 | Đăng ngày 1/15/2020


 LỜI GIỚI THIỆU

Tâm Trung Hành Lễ là những nghi lễ và phương pháp hóa giải trong nhân gian. Nhật sư – Hoàn đạo là người đã chuyển hóa từ sự nhiệm màu của hai chân lý thành cuốn Tâm Trung Hành Lễ. Đó là ánh sáng nhiệm màu từ chân lý vạn vật (luật nhân quả) và chân lý giác ngộ của Đức Ngũ Âm Hóa Đồng (Đức A Di Di Đà và Đức Nhật Sư Thích Ca).

Tâm Trung Hành Lễ là Tâm từ bi vô lượng của Đức Ngũ Âm Hóa Đồng chiếu ánh sáng nhiệm màu của Phật Pháp lan tỏa trong các hình tướng lễ nghi, trong các phong tục tập quán của các dân tộc, các quốc gia. Phật Pháp như những dòng nước mát len lỏi, lan tỏa gột rửa những lấm bụi bẩn của các hình tướng (nghi lễ và phong tục của các quốc gia, dân tộc) để giúp cho các hình tướng được trong sáng, trong sạch. Sự trong sáng của hình tướng chính là sự đoàn kết, sự giúp đỡ, sự thương yêu của con người với con người, của toàn bộ chúng sinh với nhau. Sự trong sáng của hình tướng chính là con người không còn lừa hại nhau, con người không còn mê tín dị đoan, con người không còn lạm dụng lễ nghi để buôn thần bán thánh, con người thấu hiểu vũ trụ trời người, con người hành đạo bằng tâm.

Tâm Trung Hành Lễ là dùng tâm từ bi để thực hiện các lễ nghi và hóa giải các vấn đề trong nhân gian. Mỗi chúng ta phải dùng tâm từ bi (không chấp ngã, tâm luôn vui vẻ, tâm biết buông xả những chấp ngã, sân hận) để đứng giữa trời đất, bằng sự nhất tâm chí thành cứu độ, hóa giải các vấn đề tâm linh vướng mắc hoặc các phong tục lễ nghi trong nhân gian. Tâm Trung Hành Lễ là các nghi lễ và phương pháp hóa giải tuân thủ luật nhân quả và hướng con người vận hành chân lý giác ngộ. Do đó thực hành theo Tâm Trung Hành Lễ là chúng sinh đứng giữa trời đất, dùng tâm vô điều kiện, không cầu mà tương tác với trời người để hành lễ hóa giải các khúc mắc, vướng mắc, nghi lễ phong tục trong sự tuân thủ luật nhân quả của vạn vật và hành theo sự giác ngộ. Sự không cầu mà hành đúng theo chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ sẽ đem lại sự nhiệm màu vô lượng của Phật pháp đến với tất cả các phong tục, nghi lễ của các quốc gia khác nhau.

Ý nghĩa của cuốn Tâm Trung Hành Lễ được Nhật sư – Hoàn Đạo kết tinh từ chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ:

+ Mỗi người dân tự làm thầy tâm linh của chính mình.

+ Không còn thầy bà lừa đảo hại người, không còn ai hành nghề mê tín dị đoan, không còn buôn thần bán thánh.

+ Người dân đoàn kết, nâng cao giá trị đạo đức và giá trị nhân văn.

+ Thấu hiểu và thực hành Tâm linh trong sáng bằng Tâm vô điều kiện với trí tuệ thấu hiểu.

+ Là cẩm nang, là người thầy giúp đỡ chúng ta trong các nghi lễ phong tục, trong các khúc mắc tâm linh, trong các vấn đề cần hóa giải của nhân gian.

Tâm Trung Hành Lễ được chia ra làm 4 phần:

+ Phần I: Giới thiệu các lý thuyết, các chân lý, các cảnh giới, các bài thần chú.

+ Phần II: Nghi lễ cho phần dương: Lễ Thần, Thánh, chùa, nhà cửa, điền thổ, con người.

+ Phần III: Nghi lễ cho phần âm: Lễ người chết, thổ táng, hỏa tháng, cải táng, mồ mả, gia tiên địa phủ.

+ Phần IV: Phương pháp hóa giải quỷ, điện thờ, tinh tà, âm binh, điền thổ, mồ mả, bùa chú, trấn yểm và các vấn đề trong dân gian.

 

Trong nhân gian, mỗi vùng miền có phong tục và cách thức thực hiện các vấn đề tâm linh khác nhau. Dù phong tục hay cách thức khác nhau thì việc thực hiện các nghi lễ và xử lý tâm linh trong cuốn “Tâm Trung Hành Lễ” được coi là trọng yếu và mấu chốt để giúp cho các cách thực và phong tục đó đạt đến hiệu quả tối đa trong việc xử lý.

Trong cuốn lễ hay có từ “Ngưỡng”, đây chính là nghĩ thật sâu về các ngài để tạo ra sóng rung động tiếp dẫn năng lượng tốt của các ngài để độ siêu thoát cho vong cô hồn, âm binh, tinh tà, quỷ, và gia hộ việc xử lý cho nhân gian.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẦN I: GIỚI THIỆU CÁC LÝ THUYẾT, CÁC CHÂN LÝ, CÁC CẢNH GIỚI, CÁC BÀI THẦN CHÚ

1. Học Thuyết Tam hợp

Các hình tướng hợp thành Tuệ linh, con người, muông thú, cỏ cây, đất đá…, thông qua 3 yếu tố hợp thành Tuệ linh để ta thấu hiểu cội nguồn sinh ra của Tuệ linh khắp các cõi trời, thông qua 3 yếu tố hợp thành con người để ta thấu hiểu cội nguồn của con người, thông qua 3 yếu tố hợp thành cỏ cây, đất đá và muông thú để ta thấu hiểu cội nguồn của vạn vật:

a) Tam Hợp Tuệ linh, tức là Tuệ linh được hình thành là do 3 tướng hay còn gọi là 3 yếu tố hợp thành để tạo ra các Tuệ linh:

Trụ linh: Là do duyên hợp bởi sự phân tách một phần âm và một phần dương của các dòng năng lượng tạo thành phôi âm dương, phôi âm dương này tiếp tục di chuyển tương tác trong thời gian dài để tiếp tục hấp thụ các dòng năng lượng nhằm phát triển linh khí trong phôi, khi đạt đến đủ lượng âm dương sẽ thấy như quả tinh cầu, đây gọi là Trụ linh;

Hình tướng: Là sau khi quả tinh cầu linh khí đó đủ lượng âm dương và thời gian hấp thụ năng lượng phát triển sẽ chuyển hóa thành hình hài như một em bé, nhưng là dạng năng lượng, đây là hình tướng. Đến giai đoạn này thì Tuệ linh đã được hợp thành bởi Trụ linh và hình tướng; hình tướng này được Trụ linh duy trì sự sống bởi sự cân bằng năng lượng âm dương trong Trụ linh. Tuệ linh sẽ bắt đầu học tập để nhận biết thế giới xung quanh tại chính hành tinh này và các hành tinh khác, tiếp tục hấp thụ các dòng năng lượng hay các tầng năng lượng để tiếp tục cho quá trình phát triển và trưởng thành của Tuệ linh, và trải qua thời gian dài thì Tuệ linh sẽ có hình tướng như người trưởng thành.;

Trí tuệ: Là kinh nghiệm xử lý sự việc, kinh nghiệm tương tác hấp thụ các dòng, các tầng năng lượng, kinh nghiệm di chuyển trong không gian giữa các hành tinh, kinh nghiệm cải tạo thế giới quan tại chính hành tinh đó và các hành tinh khác đã tạo cho Tuệ linh hoàn thiện yếu tố Trí Tuệ.

Như vậy cội nguồn sinh ra Tuệ linh là linh khí trong vũ trụ, là năng lượng âm kết hợp với năng lượng dương mà tạo thành.

b) Tam hợp muông thú, tức là tất cả muông thú được hình thành do 3 tướng hay còn gọi là 3 yếu tố hợp thành tạo ra muông thú:

Thân tướng: Là do duyên của con thú đực với con thú cái, chúng giao phối tạo ra phôi âm dương và phôi âm dương lớn lên trong bụng con thú cái hoặc phôi âm dương hình thành phát triển trong quả trứng, khi con thú con phát triển trong bụng con thú mẹ hoặc trong quả trứng đến ngày sẽ được sinh ra khỏi con thú mẹ hay quả trứng, đó là thân tướng được hình thành và sinh ra, khi đó linh hồn sẽ thiết nhập vào thân tướng;

Linh hồn: Là trạng thái năng lượng âm dương cân bằng đã được đấng tạo hóa gieo duyên bằng phôi âm dương để có khả năng duy trì sự sống, khi thân tướng của muông thú được sinh ra khỏi con thú mẹ thì linh hồn sẽ thiết nhập vào để duy trì sự sống cho muông thú;

Trí tuệ: Sau khi những con thú được sinh ra, chúng sẽ học tập theo những con thú lớn hơn về việc đi đứng, ăn uống, săn mồi, phân biệt nguy hiểm và liên kết với đồng loại để bảo vệ nhau, kinh nghiệm sinh tồn và phát triển trong thế giới quan của chúng được gọi là Trí tuệ;

Như vậy, đối với muông thú cũng được hình thành bởi 3 hình tướng hợp thành con thú hoàn chỉnh. Còn tổ tiên của muông thú chính là năng lượng âm dương do Đấng tạo hóa tạo ra.

c) Tam hợp nhân, tức là con người được hình thành bởi 3 tướng hay còn gọi là 3 yếu tố hợp thành mà tạo ra con người:

Thân tướng: Do duyên người cha và người mẹ, đó là tinh trùng mang tính dương của người cha và trứng mang tính âm của người mẹ; khi trứng và tinh trùng được hợp lại và tạo thành phôi thai, thai nhi sẽ được nuôi dưỡng trong bụng người mẹ bởi năng lượng của người mẹ; trải qua quãng thời gian khoảng 9 tháng 10 ngày, khi thân tướng em bé đã hoàn thiện và em bé được sinh ra, cất tiếng khóc chào đời;

Tâm: Là trạng thái năng lượng luôn dao động giữa cực Chân tâm và cực Ngã quỷ. Khi người mẹ mang thai đến tháng thứ 7, theo luật luân hồi của Đấng tạo hóa thì sẽ có một Tuệ linh được xuống luân hồi đầu thai hoặc Tuệ linh tiếp tục đầu thai sau khi trải qua các kiếp sẽ đi theo bảo vệ bà mẹ và em bé; hoặc là linh hồn của muông thú được thuần hóa thành thú lành trong nhiều kiếp, chúng giúp đỡ được con người nên linh hồn của chúng có đủ sức mạnh năng lượng của sự giúp đỡ con người và không sát hại con thú khác sẽ được Đấng tạo hóa cho phép đi theo bảo vệ bà mẹ và thai nhi để thiết nhập đầu thai. Khi em bé chào đời và cất tiếng khóc thì đó là dấu hiệu Tuệ linh hay linh hồn thiết nhập vào để duy trì sự sống cho thân tướng con người. Theo luật luân hồi, để linh hồn của các con thú được phép đầu thai làm con người thì chúng phải được thuần hóa bởi con người, chúng giúp đỡ và làm được nhiều việc ích lợi cho con người, những việc ích lợi đó tạo thành năng lượng tốt có sự cân bằng âm dương; khi có năng lượng tốt và có sự cân bằng mới được phép đầu thai làm người, và mới có đủ năng lượng duy trì sự sống một kiếp người. Có nhiều linh hồn không đủ năng lượng tốt, do chúng chưa tuân thủ theo luật luân hồi, nhất là linh hồn các con thú dữ, vì bản chất của chúng là giết hại và ăn thịt các con thú khác nên khi chết, linh hồn của chúng muốn đầu thai trộm vào các bà mẹ đang mang thai, nếu chúng đầu thai thành công thì nguy cơ đứa trẻ sẽ chết yểu, nếu chưa được sinh ra thì do duyên các ngài gieo để tránh chúng đầu thai thành người rồi mang bản tính thú dữ để hại người. Dù là Tuệ linh hay linh hồn khi đầu thai vào con người đều được gọi là Tâm.

Trí tuệ: Sau khi em bé được sinh ra và Tuệ linh hay linh hồn thiết nhập vào để tạo ra năng lượng duy trì sự sống cho em bé đó, trải qua quá trình lớn lên, học tập, nghiên cứu, lao động, mưu sinh sẽ phát triển  tư duy trí tuệ, đúc kết các kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xử lý và cải tạo thế giới quan được gọi là tướng Trí tuệ.

Như vậy con người được hợp thành bởi 3 tướng gọi là tam hợp nhân, để được đầu thai làm người, thì dù là Tuệ linh hay linh hồn phải đảm bảo được sự cân bằng năng lượng âm dương; đối với linh hồn có nguồn gốc từ muông thú nên phải trải qua nhiều kiếp làm những con thú có công lao giúp đỡ và tạo ra nhiều lợi ích cho con người mới có được năng lượng tốt và cân bằng âm dương để được làm người và duy trì được sự sống cho thân tướng đó.

d) Tam hợp cây, tức là cây cối được hình thành bởi 3 tướng hay còn được gọi là 3 yếu tố hình thành cây cối:

Thân tướng: Cây cối được hình thành từ duyên hợp giữa hạt cây với môi trường đất nước và độ ẩm, làm cho hạt cây nảy mầm rồi sinh trưởng thành thân cây, đó là hình tướng của cây.

Năng lượng: Năng lượng trong cây được ví như là linh hồn để duy trì sự tồn tại và phát triển của thân cây.

Trí tuệ: Là bản năng, khả năng hấp thụ các dưỡng chất từ sình lầy, những chất để nuôi dưỡng phát triển cây, khả năng hấp thụ CO2 và tỏa ta Oxy, đó là quá trình mang lại Oxy cho cho sự sống xung quanh nơi có cây cối, đó là mang lại lợi ích cho con người và muông thú cũng như vạn vật. Khả năng cải tạo thế giới quan gọi là Trí tuệ.

Cây cối được hợp thành bởi 3 tướng là thân tướng, năng lượng, trí tuệ để tạo thành cây hoàn chỉnh; cây có sự sống, cây mang lại được lợi ích cho muôn loài và con người nhờ vào khả năng tỏa ra Oxy và hấp thụ các khí độc thải nơi có cây được gieo trồng.

e) Tam hợp của vạn vật, cho dù bất kỳ vạn vật như đất đá, nước… đều được hình thành bởi 3 tướng hay còn gọi là 3 yếu tố tạo thành. Cơ bản sẽ có yếu tố hình tướng, yếu tố năng lượng để duy trì sự tồn tại của nó và khả năng hút năng lượng hay tỏa năng lượng gọi là trí tuệ cải tạo thế giới quan của vạn vật.

Bản chất của hình tướng vạn vật trong vũ trụ được thể hiện ở đặc điểm là mỗi một hình tướng khi hợp với hình tướng khác sẽ tạo ra hình tướng mới, hình tướng mới hợp với hình tướng khác lại tạo ra hình tướng mới nữa và cứ thế, cứ thế vạn vật vũ trụ được hình thành do sự hợp của các hình tướng tạo ra, đó là duyên hợp sinh khởi ra hình tướng vạn vật. Thông qua chân lý vạn vật sẽ cho ta thấy cội nguồn của hình tướng vạn vật trong toàn bộ vũ trụ.

 

2. Sự hình thành chư vị Thần, Thánh, Bồ Tát, Phật

Các tuệ linh (các ngài) và linh hồn (muôn thú) khi hóa thân thành con người tu hành cùng nhau, trải qua thời gian có thêm hóa thân của quỷ, yêu tinh cùng sống và tu hành cùng. Tất cả tạo thành sự hỗn độn về cuộc sống cũng như sự khắc nghiệt của hành trình tu hành cải tạo tuệ linh có được bộ lọc năng lượng và cải tạo sự sống khắp vũ trụ. Và mức độ cải tạo được gắn liền từ những giai đoạn đầu nhân loại được hình thành cho đến nay với vô số những tuệ linh đạt được các mức độ cải tạo khác nhau. Mức độ cải tạo dựa theo dòng người Thiên ân (các tuệ linh ở các cõi trời hóa thân làm người) hay Nhân mệnh (linh hồn của muông thu được chuyển sinh làm người) từ cõi trần nhân gian lan tỏa ra khắp vũ trụ.

a)     Ban giám sát hộ thần

Ban giám sát hộ thần là các thần linh, thổ địa, táo quân, sơn thần, thần tài, thủy thần, các linh vật. Ban giám sát hộ thần có một cõi trời riêng, được Đấng tạo hóa lập ra để cho họ an trụ và hấp thụ các tầng năng lượng tốt hơn.

Nguồn gốc của ban giám sát hộ thần chính là muông thú được thuần hóa từ thú dữ thành thú lành và có công giúp đỡ con người, sau đó được chuyển sinh làm người trong nhiều kiếp. Khi được làm người trong nhiều kiếp, họ sống tốt, không hại người, luôn hành thiện và giúp đỡ nhau và giúp đỡ muông thú, do đó mà Đấng tạo hóa cho họ được chuyển sinh làm thần sau khi họ thoát tục dưới cõi trần nhân sinh này.

Các chư thần trong ban giám sát hộ thần do được chuyển sinh từ dòng Nhân mệnh nên tầng năng lượng của họ vẫn còn thấp, không thể so sánh với dòng người Thiên ấn và các Tuệ linh từ các cõi trời khác xuống nhân gian tu hành. Vì thế, họ chỉ hơn con người là không phải tồn tại an trụ trong thân tướng như con người, họ cũng được gọi là Tuệ linh mới được chuyển sinh.

Khi được sinh về cõi ban giám sát hộ thần để thành chư thần, họ tiếp tục sứ mệnh xuống nhân gian cai quản âm đất đai, núi đồi, sông biển… để giúp đỡ con người tu hành dưới nhân gian, để bảo vệ nhà cửa cho con người tránh bị âm binh cô hồn đến phá hoại. Vì pháp lực yếu nên họ không thể chống chọi lại với yêu tinh và quỷ.

Tầng năng lượng trong Tuệ linh ban giám sát hộ thần là màu trắng trong, màu trắng. Đó là năng lượng của sự giúp đỡ nhân loại.

Ban giám sát hộ thần sau quá trình giúp đỡ con người bằng thể Tuệ linh thì sẽ tiếp tục được hóa thân luân hồi đầu thai làm người để tu hành đạt được các tầng năng lượng cao hơn và dần dần cải tạo Tuệ linh thành bộ lộc năng lượng.

b) Hàng tiên

Hàng tiên là những tiên nam, tiên nữ bay lượn trên một cõi trời riêng, họ bay lượn trên mây, họ múa, họ đàn ca tạo ra sự hòa vang và an lạc với những âm thanh và điệu múa.

Hàng tiên là những Tuệ linh được hình thành từ những phôi âm dương mà do Đấng tạo hoa gieo ra ở một cõi trời có các tầng và dòng năng lượng cao hơn cõi trần nhân sinh, nó tương đồng với cõi trời của ban giám sát hộ thần. Do đó pháp lực trong tầng năng lượng của họ cũng tương đương với ban giám sát hộ thần.

Thiền định thấy trong Tuệ linh của hàng tiên có tầng năng lượng màu trong suốt.

Hàng tiên hóa thân xuống nhân gian làm người, lớn lên hầu như họ trở thành những người giỏi về vũ công, âm nhạc, sáng tác, người đẹp để mang lại niềm vui và giúp cho nhân loại tiêu diệt đi những căng thẳng khó khăn trong cuộc sống. Như vậy mức độ cải tạo của họ là mang lại niềm vui và tinh thần cho nhân loại. Họ sẽ phải luân hồi tu hành trong nhiều kiếp để vượt qua khổ đau kiếp nạn mà cải tạo Trụ linh của Tuệ linh.

c) Hàng Tuệ linh cõi A DI DI ĐÀ

Đó là các Tuệ linh tại cõi trời nhiệm màu nhất, họ xuống nhân gian tu hành chỉ để làm nhiệm vụ là mang các công trình họ nghiên cứu được xuống để xây dựng và giúp nhân loại phát triển, làm cho môi trường tu hành dưới nhân gian được tốt đẹp hơn. Khi họ nghiên cứu ra các phương pháp hay công trình nào đó đem lại lợi ích cho người tu hành dưới nhân gian hoặc các công trình giúp cải tạo và phát triển sự sống dưới nhân gian thì họ phải luân hồi đầu thai xuống làm người để truyền công trình đó cho nhân loại. Những Tuệ linh này khi hoàn thành xong kiếp người là họ về, khi cần thì họ lại xuống nhân gian để giúp nhân loại.

Thiền định thấy tầng năng lượng trong Tuệ linh họ phát ra màu trắng bạc tỏa hào quang, đó là tầng năng lượng dương bởi sự giúp đỡ nhân loại mà đã sinh khởi trong Tuệ linh của họ. Tầng năng lượng của họ cao và lớn hơn nhiều so với hàng tiên và ban giám sát hộ thần, vì họ sinh ra ở cõi trời nhiệm màu nhất về các dòng và tầng năng lượng nên pháp lực của họ rất mạnh.

Mức độ cải tạo của họ gắn với sự tiến bộ của nhân loại, gắn với các công trình mang lại lợi ích cho nhân loại: nền nông nghiệp, thâm canh, chăn nuôi, công nghiệp, cơ khí, toán học, vật lý, hóa học, sinh học, thiên văn học, vũ trụ…

d) Hàng Thánh nhân

Thánh nhân là những người có thật gắn liền với lịch sử của các quốc gia dưới nhân gian, họ có công xây dựng và bảo vệ dân tộc, quốc gia mà họ sinh ra mà đắc phẩm vị thánh nhân. Mỗi quốc gia đều có hàng thánh nhân riêng, các hàng thánh này cùng an trụ tại một cõi trời rộng lớn, và các hàng thánh dưới sự cai quản và quản lý của vua trời. Vua trời cai quản các hàng thánh của tất cả các quốc gia, cai quản hàng tiên, cai quản ban giám sát hộ thần. Vua trời có trách nhiệm giữ trật tự và ổn định giữa các hàng thánh của các quốc gia để tránh xảy ra xung đột chiến tranh dưới nhân gian. Khi có chiến tranh giữa các quốc gia dưới nhân gian thì vua trời cùng với hàng thánh họp bàn và chọn lựa vị thánh nhân nào đó hóa thân xuống nhân gian để ngăn chặn chiến tranh hoặc giữ hòa bình giữa các quốc gia hoặc chấm dứt chiến tranh.

Cội nguồn của các vị thánh nhân đều là những Tuệ linh từ cõi trời A DI DI ĐÀ xuống nhân gian tu hành cải tạo Trụ linh của Tuệ linh, khi tu hành dưới nhân gian và cải tạo được thế giới quan ở phạm vi quốc gia dân tộc họ sinh sống sẽ đắc được quả vị thánh nhân. Khi đắc được quả vị thánh nhân thì họ sẽ được Đấng tạo hóa lập ra một cõi trời riêng và đưa họ về đó, dùng năng lượng mà họ đã giúp đỡ nhân dân quốc gia họ để xây dựng và cải tạo sự sống ở cõi trời mới. Như vậy sau khi đắc đạo bậc thánh nhân thì họ được Đấng tạo hóa tạo ra sự sống ở một cõi trời và đưa họ về đó tu hành và họ được dân chúng quốc gia mà họ thành đạo bậc thánh nhân ở dưới nhân gian tôn thờ mà tạo thành tín ngưỡng của các quốc gia khác nhau, và họ tiếp tục tiến trình luân hồi xuống nhân gian tu hành để vượt qua hết tất cả các kiếp nạn khổ đau mà cải tạo Trụ linh của Tuệ linh thành bộ lọc năng lượng và tiếp tục duy trì cải tạo sự sống ở cõi trời của họ và khắp vũ trụ.

Mức độ cải tạo để đắc quả vị Thánh nhân: để đắc đạo bậc thánh nhân thì người tu hành phải đạt được các điều kiện đắc quả vị và mức độ cải tạo của họ khi họ luân hồi dưới nhân gian, dựa trên mức độ đó mà Đấng tạo hóa sắc phong phẩm vị, quả vị cho họ:

+ Hành giả phải giác ngộ được khổ đau do quy luật tự nhiên, đó là giác ngộ được sinh - lão - bệnh - tử - sinh ly - tử biệt. Không màng và chấp nhận hi sinh thân xác để xây dựng, bảo vệ dân tộc, bảo vệ đất nước, bảo vệ sự hòa bình, ấm no, bảo vệ cho dân chúng ở quốc gia họ đang sinh sống;

+ Tuy nhiên, họ chưa giác ngộ được khổ đau tại tâm, trong tâm họ vẫn còn chấp vào hình tướng là quốc gia dân tộc, họ chỉ lo lắng cho quốc gia dân tộc mình, họ vẫn còn phải vì dân tộc mình mà cầm binh ra chiến trận để tiêu diệt quân thù, cho nên họ chỉ được phong làm bậc thánh nhân ở phạm vi quốc gia dân tộc họ sinh sống. Họ vẫn chưa thấu hiểu chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ, họ chỉ vì tình yêu thương dân tộc mà hàng đạo cứu dân tộc họ nên đắc quả vị;

+ Sau khi thoát tục cõi trần nhân sinh phải được cộng đồng dân chúng ở quốc gia đó hay dân tộc đó ca ngợi công ơn và dựng đền thờ phụng, hoặc được dân chúng thờ phụng ở khắp nơi.

Thiền định kiểm tra tầng năng lượng trong Tuệ linh bậc thánh nhân sẽ thấy năng lượng màu tím, màu xanh, màu hồng. Tầng năng lượng của họ mạnh hơn hàng Tuệ linh cõi A DI DI ĐÀ vì họ có sự giác ngộ hơn và có chân tu dưới nhân gian trong nhiều kiếp. Tầng năng lượng màu xanh, màu hồng, màu tím là vẫn còn chấp ngã về dân tộc nên họ vẫn phải tiếp tục luân hồi tu hành để trả nghiệp lực cũng như vượt qua hết các kiếp nạn khổ đau trên tiến trình cải tạo Trụ linh của Tuệ linh.

e) Hàng Bồ tát đạo Phật (tương đương hàng Thánh thần đạo Thiên chúa)

Họ là dòng người Thiên ấn, con đường tu hành và hành đạo cải tạo thế giới quan gắn liền với lịch sử, họ được biết đến bởi lịch sử hoặc không được biết đến bởi sự hành đạo âm thầm. Họ là những người giàu có, họ chuyển hóa sự giàu có của mình thành việc đi cứu giúp dân chúng khắp các vùng hoặc dân chúng khắp nơi trên thế giới vượt qua nghèo đói, dịch bệnh hoặc thiên tai, họ là những người đi hành thiện cứu người, họ là những bậc tu hành, những bậc lương y đi cứu giúp người trong hoạn nạn… đó là cứu độ. Hàng Bồ tát của đạo Phật hay hàng Thánh thần của đạo Thiên chúa không chịu sự quản lý của vua trời, họ chịu sự quản lý của sư tổ dòng đạo của họ và Đấng tạo hóa.

Cội nguồn của hàng Bồ tát của đạo Phật hoặc hàng Thánh thần của đạo Thiên chúa đều là những Tuệ linh từ cõi trời A DI DI ĐÀ xuống nhân gian tu hành cải tạo Trụ linh của Tuệ linh, khi tu hành dưới nhân gian và cải tạo được thế giới quan ở phạm vi vượt qua biên giới quốc gia dân tộc. Khi đắc được những quả vị đó thì họ sẽ được Đấng tạo hóa và sư tổ của dòng đạo họ sắc phong phẩm vị quả vị và họ được trở về cõi trời của dòng đạo họ theo. Tại cõi trời đó, họ dùng năng lượng của tâm từ bi yêu thương giúp đỡ chúng sinh đã có được khi hành đạo dưới nhân gian để tạo ra, duy trì phát triển sự sống khắp cõi trời họ và tiếp tục độ cho chúng sinh dưới nhân gian. Có nhiều người dưới nhân gian biết được danh hiệu của họ mà trì tụng hay tôn thờ họ. Vì các Tuệ linh này vẫn chưa cải tạo thành công Trụ linh thành bộ lọc năng lượng nên vẫn phải tiếp tục luân hồi xuống nhân gian để trải qua hết tất cả các kiếp nạn khổ đau trong tiến trình tu hành dưới nhân gian.

Mức độ cải tạo để đắc quả vị hàng Bồ tát của đạo Phật hoặc hàng Thánh thần của đạo Thiên chúa: để đắc quả vị hàng Bồ tát của đạo Phật hoặc hàng Thánh thần của đạo Thiên chúa thì người tu hành phải đạt được các điều kiện đắc quả vị và mức độ cải tạo của họ khi họ luân hồi dưới nhân gian, dựa trên mức độ đó mà Đấng tạo hóa và sư tổ dòng đạo của họ tu hành theo sắc phong phẩm vị quả vị cho họ:

+ Hành giả phải giác ngộ giải thoát khổ đau theo quy luật tự nhiên và giác ngộ khổ đau tại tâm. Không phân biệt dân tộc, quốc gia, vùng miền, chúng sinh, muông thú mà sẵn sàng hi sinh thân xác để cứu độ đến tất cả chúng sinh và muông thú;

+ Tuy nhiên, tâm vẫn còn chấp tức : khi chúng sinh kêu cứu thì mới cứu, chúng sinh không kêu cứu thì không cứu. Và mức độ cứu độ của hàng Bồ tát là có hạn, số lượng hạn chế bởi những người kêu cứu và tầng năng lượng của hàng Bồ tát còn hạn chế. Sự hạn chế này là do chưa có được sự thấu hiểu sâu về chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ nên tâm vẫn còn chấp và cảm thọ vào nỗi đau và nỗi khổ của chúng sinh mà chưa thuyết pháp phổ độ chúng sinh như Phật;

Thiền định kiểm tra tầng năng lượng trong Tuệ linh của hàng Bồ tát thì thấy hào quang tỏa ra ánh sáng trắng có màu vàng nhạt, màu trắng là của Chân tâm, màu vàng nhạt của của sự cứu người có kèm theo thuyết nhân quả giác ngộ cho chúng sinh. Tầng năng lượng của hàng Thánh thần bên đạo Thiên chúa thì tỏa hào quang màu trắng.

f) Hàng Phật và chúa Jesu

Họ là dòng người Thiên ấn, con đường tu hành và hành đạo cải tạo thế giới quan có gắn liền với lịch sử, họ được biết đến bởi họ là những người đã để lại giá trị tư tưởng đạo đức, tư tưởng giác ngộ giải thoát khổ đau khắp nhân gian. Họ là những nhân vật lịch sử như Đức Phật Thích Ca và các vị đại đệ tử của ngài, Chúa Jesu. Khi họ còn sống và hành đạo, họ đi truyền giáo, thuyết pháp cho chúng sinh khắp nơi trên thế giới thấu hiểu nhân quả, chân lý vạn vật và dẫn dắt dân chúng khắp thế giới rời xa nghiệp và hành thiện, đó là đi Phổ độ chúng sinh. Hàng Phật và chúa Jesu là ở trên tất cả các hàng và đứng dưới Đấng tạo hóa.

Cội nguồn của hàng Phật hay chúa Jesu đều là những Tuệ linh từ cõi trời A DI DI ĐÀ xuống nhân gian tu hành cải tạo Trụ linh của Tuệ linh, khi tu hành dưới nhân gian và cải tạo được thế giới quan ở phạm vi vượt qua biên giới quốc gia dân tộc, vượt qua hết hoặc gần hết các kiếp nạn khổ đau mà đắc phẩm vị quả Phật. Khi đắc được quả vị Phật hoặc như Chúa Jesu thì họ sẽ được Đấng tạo hóa sắc phong phẩm vị quả vị và họ được trở về cõi trời của dòng đạo cùng sư tổ khai sinh ra dòng đạo. Tại cõi trời đó, họ dùng năng lượng của tâm từ bi yêu thương giúp đỡ chúng sinh đã có được khi hành đạo dưới nhân gian để tạo ra, duy trì phát triển sự sống khắp cõi trời họ và tiếp tục độ cho chúng sinh dưới nhân gian. Có nhiều người dưới nhân gian biết được danh hiệu của họ mà trì tụng hay tôn thờ họ. Vì trong các Phật và Jesu vẫn chưa có được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh của Tuệ linh nên họ sẽ tiếp tục luân hồi xuống nhân gian để vượt qua nốt các kiếp nạn và chuyển Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

Mức độ cải tạo để đắc quả vị hàng Phật và Chúa Jesu: để đắc quả v đó thì người tu hành phải đạt được các điều kiện đắc quả vị và mức độ cải tạo của họ khi họ luân hồi dưới nhân gian, dựa trên mức độ đó mà Đấng tạo hóa và sư tổ dòng đạo của họ tu hành theo sắc phong phẩm vị quả vị cho họ:

+ Hành giả phải giác ngộ giải thoát khổ đau theo quy luật tự nhiên và giác ngộ khổ đau tại tâm. Không phân biệt dân tộc, quốc gia, vùng miền, chúng sinh, muông thú và trời người mà sẵn sàng hi sinh thân xác để phổ độ thuyết pháp về chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ, cứu độ đến tất cả chúng sinh và muông thú trời người;

+ Phải thấu hiểu chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ nên họ không còn phân biệt ai kêu khổ hay ai không kêu khổ, vì họ hiểu tất cả trời người đều là khổ nên họ chạy đua với thời gian, hi sinh thân xác để đi phổ độ theo sứ mệnh của Phật, cứu độ của hàng Bồ tát và hàng Thánh nhân. Tâm đã diệt hết chấp nên tâm không bị chìm theo cảm thọ khổ đau của chúng sinh như hàng Bồ tát;

Thiền định kiểm tra tầng năng lượng trong Tuệ linh của hàng Phật và chúa Jesu sẽ thấy tỏa ra năng lượng hào quang màu vàng rực rỡ. Đó là năng lượng của tâm từ bi, năng lượng của hành đạo thuyết pháp cho chúng sinh thấy sự thật của chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ nên trong tâm - tuệ họ sinh khởi năng lượng của sự thật là màu vàng.

g) Quả vị Không

Quả vị Không chính là quả vị cao nhất, không còn quả vị nào cao hơn, đó chính là bộ lọc năng lượng trong Trụ linh của Tuệ linh. Bộ lọc năng lượng là sự hấp thụ khổ đau, nghiệp lực, năng lượng xấu của vũ trụ trời người và thông qua sự vận hành của chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ để chuyển hóa thành tầng năng lượng khí màu vàng rực sáng như mặt trời, tỏa năng lượng duy trì sự cân bằng sự sống khắp các cõi trời trong vũ trụ.

Quả vị Không có hai Tuệ linh đạt được: đó là Đấng tạo hóa (Đức A DI DI ĐÀ), ngài là người cha vĩ đại của cả trời người trong vũ trụ, ngài chính là vị đã thấu hiểu và hoàn thiện chân lý vạn vật, luật nhân quả để vận hành cải tạo sự sống vạn vật vũ trụ; Đức Phật Thích Ca là người đầu tiên tìm ra chân lý vạn vật của Đức A DI DI ĐÀ và lại giác ngộ được thêm chân lý giác ngộ, khi ngài giác ngộ được hai chân lý và vận hành để đi hành đạo hóa độ, phổ độ, cứu độ chúng sinh, ngài được trời người sắc phong ngài là Thầy của trời người. Hai ngài hợp nhất thành danh hiệu mới là Đức Ngũ Âm Hóa Đồng với ý nghĩa là dẫn dắt chúng sinh toàn bộ vũ trụ đắc quả Không.

Đấng tạo hóa tạo hóa ra vạn vật, hay nói cách khác thì vạn vật chính là ngài, luật nhân quả là ngài và ngài chính là luật nhân quả; Đức Phật Thích Ca là người dẫn dắt chúng sinh thấu hiểu và tuân thủ luật nhân quả, thấu hiểu chân lý vạn vật và chuyển hóa hết các kiếp nạn khổ đau thành lợi ích cho chúng sinh thông qua chân lý giác ngộ.

Như vậy điều kiện để đắc quả vị Không là phải thấu hiểu triệt để hai chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ, hành giả phải dùng hai chân lý đó vượt qua hết các kiếp nạn khổ đau thì Tuệ linh sẽ cải tạo được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng, đó là con đường cải tạo Trụ linh viên mãn, là bất tử cửa Tuệ linh, là Đạo viên mãn, là Hoàn đạo.

Thiền kiểm tra tầng năng lượng trong Tuệ linh hai ngài thấy tầng năng lượng màu vàng chói sáng rực rỡ như ánh mặt trời. Đó là ánh sáng sự thật của hai chân lý.

 

3.  Mức độ phá hoại sự sống khắp vũ trụ của Ngã quỷ

Mức độ phá hoại của dòng người Thiên ấn, Nhân mệnh và linh hồn của muông thú là phá hỏng và vi phạm luật nhân quả trong 4 biểu hiện hình tướng Đạo. Mức độ phá hoại đã diễn ra từ giai đoạn đầu tiên các Tuệ linh xuống nhân gian tu hành, từ trong phạm vi cõi trần nhân sinh lan tỏa ra khắp vũ trụ. Mức độ phá hoại khác nhau mà tầng năng lượng trong tâm, trong Tuệ linh họ cũng khác nhau, và thông qua các tầng năng lượng đó mà ta nhận biết, phân biệt được các cảnh giới của Ngã quỷ.

a) Địa ngục của các dòng đạo

Những người Thiên ân và Nhân mệnh khi sống trên nhân gian vi phạm luật nhân quả, gây ra nghiệp lực tổn thương đến vạn vật, muông thú và con người, khi chết đi sẽ được các ngài của từng dòng đạo bắt Tuệ linh hoặc linh hồn về giam giữ trong các cửa ngục dưới sự quản lý của các dòng đạo khác nhau để cho họ bị phản chiếu nghiệp lực mà ảo tưởng đang bị các quỷ tra tấn hành hình. Khi họ thấu hiểu nghiệp mình tạo ra trên nhân gian và định tâm để sám tâm thì sẽ không còn phải đọa trong các cửa ngục đó nữa, họ sẽ được tu tập luyện nguyên thần để chờ đầu thai làm người kiếp mới, hoặc đầu thai làm súc sinh để trả nợ nghiệp tiền kiếp gây ra. Trước khi chưa có dòng đạo Phật và Thiên chúa, đạo Hồi, những người tạo nghiệp sau khi chết sẽ được luân hồi để trả nghiệp ngay, họ không có quãng thời gian tu luyện dưỡng nguyên khí trước khi luân hồi, do nghiệp mà đọa thành súc sinh hay tiếp tục làm người.

Những người Thiên ấn hay Nhân mệnh do vi phạm luật nhân quả, phá hoại 4 biểu hiện hình tướng đạo, gây tổn thương cho con người và muông thú tại cõi trần nhân gian này, nhưng vẫn nằm trong sự kiểm soát của các ngài và Đấng tạo hóa.

Khi thiền định tham quan các Tuệ linh, linh hồn bị giam giữ trong các cửa ngục sẽ thấy tầng năng lượng tỏa ra khí xám đen và ẩn bên trong là khí màu đỏ máu.

b) Vong cô hồn

Vong cô hồn là những người dù thuộc Thiên ấn hay Nhân mệnh, do khi sống tạo quá nhiều ác nghiệp mà chết do tai nạn hay bị giết, hoặc do kiếp trước tạo nhiều ác nghiệp mà kiếp này chết do chiến tranh hay bị giết chết, hoặc tự tử. Khi chết sẽ không được các ngài đón về địa phủ hoặc cho chuyển sinh đầu thai trả nghiệp. Vì nghiệp quá nặng, nhất là không trân trọng mạng sống của mình mà tự tử, không trân trọng mạng sống người khác mà giết hại họ kiếp trước hay kiếp này mà khi chết ngoài việc bị giết lại còn phải bị đọa thành vong cô hồn để mà thấu hiểu khi không trân trọng sinh mạng kiếp người.

Thiền nhìn vào Tuệ linh hoặc linh hồn đó sẽ thấy tầng năng lượng tỏa ra màu xám hoặc xám đen. Vì họ bị giết hay tự tử nên khi chết họ vẫn còn chấp và chưa định được tại sao họ chết nên sinh khởi năng lượng màu xám hoặc xám đen trong Tuệ linh và linh hồn của họ.

c) Yêu tinh, yêu quái

 Yêu tinh hay còn gọi là yêu quái, đó là linh hồn của các con thú dữ khi sống hay săn mồi và ăn thịt các con thú khác: hổ, báo, cáo, chó, đại bàng, trăn, rắn… Khi sống giết hại và ăn thịt vô số, khi chết linh hồn của chúng tỏa ra tầng năng lượng màu đen.

Khi các con yêu tinh này nhìn và chứng kiến nhiều muông thú được thuần hóa chuyển sinh làm người, chúng cũng muốn được làm người, nhưng không muốn tuân theo luật luân hồi là phải được thuần hóa và tạo nhiều lợi ích giúp đỡ con người để có năng lượng dương khí mà được chuyển sinh làm người. Để được làm người thì linh hồn muông thú phải có được năng lượng dương, đó là nguyên thần nguyên khí để duy trì sự sống một kiếp người, năng lượng dương chỉ được sinh khởi khi làm nhiều việc thiện và giúp đỡ vạn vật trời người. Do bản chất của thú dữ là giết hại nên linh hồn chúng thường đi tìm những người tạo nghiệp nặng ở các kiếp trước để nhập vào lấy nguyên thần của họ để tăng năng lượng dương trong linh hồn của chúng, bởi những người tạo nghiệp kiếp trước sẽ tỏa ra tầng năng lượng màu đen trong tâm, do trùng hợp với tầng năng lượng của yêu tinh nên nó dễ dàng nhập vào và giết hại những người đã tạo nghiệp kiếp trước. Chúng rất thích giết hại và lấy nguyên thần của những người Thiên ấn vì dòng người này có tầng năng lượng rất mạnh, sẽ giúp chúng nhanh chóng chuyển sinh làm người mà không phải tuân thủ luật luân hồi.

Những con yêu tinh khi đầu thai trộm thành công và lớn lên, chúng sẽ giết người hàng loạt, chúng sẽ làm thầy pháp, thầy phù thủy, thầy tu để tiếp tục tu luyện pháp tà và hấp thụ năng lượng của dòng người Thiên ấn, vì dòng người thiên n có tầng năng lượng rất mạnh. Khi những người này chết, những con yêu tinh sẽ chạy trốn khỏi sự kiểm soát của các ngài để tiếp tục đầu thai trộm làm người hoặc chúng giả danh các vị thánh nhân, thần phật để dẫn dụ và hại dân chúng.

Khi những con yêu tinh đầu thai làm đạo sĩ, thầy tu, thầy pháp, thầy phù thủy, chúng sẽ được cõi trời của quỷ truyền dạy cho pháp, và sẽ làm tay sai của quỷ để phá hoại các tín ngưỡng thờ thần thánh, phá hoại các tôn giáo dưới nhân gian, chúng dẫn dắt con người đi vào u mê của mê tín dị đoan. Sau khi chúng chết, chúng được gọi là Tinh chủ, chúng sẽ giết hại vô số người vì chúng có sức mạnh khủng khiếp hơn các yêu tinh chưa được đầu thai làm người tu luyện đạo pháp.

Khi thiền sẽ thấy yêu tinh chưa đầu thai trộm làm người thì hình hài như muông thú và tỏa ra khí đen, còn Tinh chủ sẽ hiện ra cả hình hài người thầy tu hay thầy pháp và lại hóa thành hình hài con thú và tỏa ra khí đen khi bị niêm phong bằng tâm pháp.

d) Quỷ

Quỷ chính là các Tuệ linh ở các cõi trời khác hóa thân xuống nhân gian tu hành, khi tương tác với thiên địa nhân, bốn hướng đông tây nam bắc, quá khứ hiện tại vị lai, với 4 biểu hiện hình tướng Đạo, trí tuệ họ định vào, ngã vào để chiếm lấy, vơ vét lấy giả tướng về mình mà tâm họ chuyển thành Ngã quỷ. Khi đó họ hành động vi phạm luật nhân quả, gây tổn thương cho vạn vật muông thú và trời người, họ chống đối lại luật nhân quả của đấng tạo hóa. Khi họ đang sinh sống kiếp người thì họ định vào trí tuệ mà chỉnh sửa giáo lý kinh sách trong tôn giáo, hành nghề mê tín dị đoan, làm giàu phi pháp, mua quan bán chức, gây ra chiến tranh… làm cho giá trị đạo đức nhân văn của con người bị tha hóa. Trải qua nhiều kiếp tu hành tạo nhiều nghiệp lực, nên khi chết Tuệ linh họ trốn chạy sự quản lý giáo hóa của các ngài và Đấng tạo hóa, chúng cùng nhau lập ra một cõi trời riêng, đó là cõi trời của quỷ để biến hóa ra các cảnh hưởng thụ trụy lạc, nghiên cứu các phương pháp phá lại các dòng đạo, các tín ngưỡng dưới dân gian, dẫn dụ con người tha hóa về đạo đức. Sau đó chúng biến hóa diện tướng của chúng thành phật, thần và lừa người dân khiến người dân u mê lễ bái chúng để xin công danh tài lộc.

Khi thiền sẽ thấy tầng năng lượng trong quỷ màu đỏ máu và tỏa ra khí đen. Từ cõi trời của quỷ, chúng điều hành và truyền những năng lượng thông tin làm cho người tu hành, con người bị hoang mang, bị chấp ngã mà làm theo những điều chúng điều hành, chúng truyền dạy pháp cho những người tu hành, những người thầy pháp, thầy cúng, thầy phù thủy để làm tay sai phá hoại nhân loại cho chúng.

Quỷ cũng hóa thân xuống để thăng tiến trong quan trường nhằm tạo ra các cuộc chiến tranh, chúng hóa thân xuống thành người tu hành có chức sắc để phá các dòng đạo, chúng hóa thân xuống nhiều để xây dựng và vận hành các cảnh sống suy thoái về đạo đức, vận hành mê tín dị đoan mà khiến cho con người quên đi mình là ai, sứ mệnh của mình làm gì dưới nhân gian.

Trong cõi quỷ thì có quỷ chúa, hay còn gọi là ma vương, quỷ chúa thống lãnh toàn bộ cõi quỷ, thu phục tinh tà và truyền pháp cho tinh tà, khống chế các vong cô hồn làm âm binh cho tinh tà. Đặc biệt ở dưới nhân gian thì chúng biến hóa thành các vị Thánh thần, phật mà truyền pháp cho người tu hành trong các dòng đạo, trong các tín ngưỡng khi họ tham lam về pháp và tài lộc cũng như công danh, để biến họ tạo nghiệp và hóa thành quỷ mới; chúng truyền dạy pháp cho yêu tinh đã hóa thân thành người để làm đạo sĩ, thầy tu, thầy pháp để khống chế yêu tinh khác và cô hồn làm âm binh để phá hoại giá trị đạo đức nhân văn và sự sống của con người. Chúng dẫn dụ cho nhiều Tuệ linh tạo nghiệp lực để rồi chúng bắt họ về làm quỷ mới. Chúng dùng tầng năng lượng âm của chúng để đi phá hủy sự sống ở khắp các cõi trời, gây nguy hiểm đến sự sống ở khắp các cõi trời trong vũ trụ.

 

4.  Luật nhân quả và luật giác ngộ

Luật nhân quả chính là chân lý vạn vật: “Vạn vật, sự việc, hiện tượng không tự nó sinh ra, không tự nó mất đi, khổ đau không tự đến, khổ đau không tự đi, tất cả do duyên và nghiệp, hay còn gọi là nhân quả”. Luật nhân quả được thể hiện rõ qua 4 biểu hiện hình tướng Đạo, đó là những điều mà mỗi con người chúng ta không được phép vi phạm vào. Nếu con người chúng ta vi phạm vào luật nhân quả thì sẽ phải chịu quả báo phản chiếu lại hành vi vi phạm luật nhân quả:

1 - Luật nhân quả trong hình tướng Đạo lễ:

+ Con người không được phép bất hiếu với tổ tiên loài người: phỉ báng, chửi rủa thiên địa, xúc phạm những người có công xây dựng bảo vệ tổ quốc;

+ Con cháu không được phép bất hiếu với tổ tiên: chửi rủa, phá mồ mả, đập phá ban thờ;

+ Con cái không được phép bất hiếu, bất nhân với cha mẹ: chửi rủa, chà đạp, đánh đập,  bỏ mặc, giết hại cha mẹ và người nuôi dưỡng;

+ Vợ chồng không được phép bất chung, bất nhân: ngoại tình, thông dâm, tà dâm, đánh đập, chà đạp nhân phẩm của nhau, bỏ nhau, giết hại nhau;

+ Anh em không được phép bất nghĩa, bất nhân: tranh giành lợi ích, đánh đập, chà đạp, giết hại nhau;

+ Cha mẹ không được phép bất nghĩa, bất nhân với con cái: bỏ rơi con cái, giết hại con cái, chà đạp đánh đập con cái, dạy con cái làm điều ác hại người;

+ Không được sống độc thân, không được bỏ bố, bỏ mẹ, bỏ vợ, bỏ chồng, bỏ con cái để sống cuộc sống cuộc sống ích kỷ.

2 - Luật nhân quả trong hình tướng Đạo đời:

+ Không được sát sinh: giết hại muông thú, hành nghề sát sinh;

+ Không được thông dâm, tà dâm: khi đã có lập gia đình và đang chúng sống với nhau dưới sự bảo hộ của luật pháp quốc gia thì không được phản bội lại vợ chồng mà đi lấy thêm vợ hoặc thông dâm với người khác; không được hiếp dâm, không được làm dụng tình cảm của người khác giới để thỏa mãn dục vọng;

+ Không được chửi rủa, chà đạp nhân phẩm người khác, không được đánh đập người khác;

+ Không được giết hại người khác và giết hại chính mình, không được nạo phá thai nhi;

+ Không được buôn người: trẻ em, phụ nữ, nô lệ;

+ Không được hành nghề mại dâm;

+ Không được dối trên lừa dưới, không được lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác;

+ Không được phép sản xuất buôn bán những thứ gây tổn hại cho con người và muông thú, không được buôn bán và sản xuất những thứ mà pháp luật quốc gia không cho phép;

+ Không được lười lao động;

+ Người chủ lao động không được bóc lột sức lao động của người lao động, không được chửi rủa, không được chà đạp nhân phẩm, không được đánh đập và giết hại người lao động.

3 - Luật nhân quả trong hình tướng Đạo đường:

+ Học trò không được phép bất kinh, bất nhân với thầy: chửi rủa, chà đạo nhân phẩm, đánh đập, giết hại Thầy;

+ Thầy không được phép bất nhân, bất nghĩa với trò: chửi rủa, chà đạp, đánh đập, giết hại trò, dạy trò làm những điều ác, tuyền dạy cho học trò đi ngược nhân quả vạn vật;

+ Không được dùng tâm linh để lừa đảo hại người, trục lợi về mình, phá hủy giá trị đạo đức nhân văn của dân tộc và nhân loại;

+ Không được kích động, xung đột tôn giáo, không được lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền giáo lý sai khiến cho con người đánh mất giá trị đạo đức nhân văn tốt, khiến cho nhân loại u mê mà lừa hại hoại diệt lẫn nhau.

4 - Luật nhân quả trong hình tướng Đạo đế vương:

+ Vua, quan không được phép bất trung với quốc gia, dân tộc: kích động chiến tranh, đi chiến tranh xâm lược, tham ô tham nhũng, bán nước hại dân, đàn áp giết hại dân chúng, để người dân đói nghèo dịch bệnh;

+ Người dân không được phép bất trung với quốc gia: lười lao động, hành nghề mê tín dị đoan, xúi dục kích động phản động chia rẽ dân tộc, phản bội tổ quốc, chạy trốn khi quốc gia lâm nguy.

Bốn biểu hiện hình tướng Đạo chính là luật nhân quả, luật nhân quả là luật công bằng, là sự phản chiếu lại nghiệp lực của chúng sinh đã tạo ra, nếu chúng sinh nào vi phạm vào 4 biểu hiện hình tướng đạo thì sẽ phải chịu quả nghiệp ở nhiều kiếp sau, thậm chí sẽ phải chịu quả nghiệp nhãn tiền trước mắt, và sau khi thoát tục cõi trần nhân sinh sẽ phải đọa vào các cửa ngục ngã quỷ. Ví dụ kiếp này có người bị giết oan khi tuổi còn trẻ, đó là nhân quả của việc kiếp trước của người đó đi giết hại người. Ví dụ kiếp này có người con gái bị chồng phản bội và đi ngoại tình, đó là nhân quả của kiếp trước chính người con gái đó phản bội chồng và đi ngoại tình. Ví dụ có người kiếp này không có chồng, đó là nhân quả kiếp trước bỏ gia đình, không lập gia đình để ích kỷ đi tu hay sống ẩn giật.

Luật giác ngộ chính là chân lý giác ngộ: “À, đời là bể khổ. Chúng sinh trời người phải dùng chân tâm để đối mặt giác ngộ, giải thoát hết tất cả các khổ đau”. Như vậy trong chân lý giác ngộ đã cho thấy tất cả trời người đều là bể khổ, bể khổ vì phải tương tác với tất cả trời người, với bốn hình tướng đạo để chạy đua thời gian cải tạo cuộc sống và sự sống của vũ trụ. Do đó để giác ngộ thì tất cả trời người phải đối mặt và giác ngộ được tất cả các khổ đau. Đây chính là luật giác ngộ:

1 -  Luật giác ngộ trong hình tướng Đạo lễ:

+ Con người phải thấu hiểu thiên địa, thấu hiểu về Đấng tạo hóa là người cha vĩ đại của trời người, do đó phải tri ân đối với thiên địa;

+ Con cháu phải tưởng nhớ, tri ân với những vị anh hùng dân tộc đã có công xây dựng và bảo vệ tổ quốc; phải tưởng nhớ và tri ân với cha ông đã hi sinh thân xác để xây dựng và bảo vệ quốc gia mình đang sinh sống;

+ Con cái phải báo hiếu cha mẹ: phụng dưỡng, chăm sóc, thậm chí hi sinh thân xác để bảo vệ cha mẹ;

+ Vợ chồng phải chung thủy tuyệt đối: yêu thương nhau, hi sinh vì nhau;

+ Anh em phải nghĩa tình viên mãn: đoàn kết, chia sẻ, giúp đỡ nhau;

+ Cha mẹ trả nghĩa con cái: dạy con cái thành người tốt, người thấu hiểu đạo lý làm người, hi sinh vì con cái;

+ Phải lập kết hôn gia đình và chăm sóc gia đình hạnh phúc để duy trì phát triển nhân loại.

2 -  Luật giác ngộ trong hình tướng Đạo đời:

+ Phải thương yêu muông thú, bảo vệ muông thú, bảo vệ thiên nhiên;

+ Phải tôn trọng những người khác giới, giữ các mỗi quan hệ khác giới trong sáng;

+ Phải giúp đỡ người khó khăn, khổ đau, hoạn nạn, nghèo khó;

+ Phải hy sinh lợi ích của mình để bảo vệ nhân loại, mang lại niềm vui và hạnh phúc cho nhân loại;

+ Phải sống có nghĩa tình, phải giữ chữ tín đối với nhau;

+ Phải quan tâm chăm sóc người già, trẻ em, phụ nữ;

+ Kinh doanh, sản xuất phải tuân thủ pháp luật quốc gia và phải mang lại được lợi ích cho mọi người;

+ Phải chăm chỉ lao động, hăng say lao động sản xuất;

+ Người chủ lao động phải quan tâm, thương yêu và giúp đỡ người lao động.

3 -  Luật giác ngộ trong hình tướng Đạo đường:

+ Học trò phải kính trọng thầy dạy;

+ Thầy phải yêu thương trò và phải truyền dạy cho trò thấu hiểu đạo lý làm người để cải tạo thế giới quan tốt đẹp hơn;

+ Phải tôn tạo và bảo tồn những giá trị trong sáng của tín ngưỡng văn hóa, của các dòng đạo;

+ Phải thấu hiểu thiên địa nhân, thấu hiểu người cha vĩ đại của trời người, phải thấu hiểu các dòng đạo đều là con dân của ngài, do đó nhân loại phải đoàn kết, đoàn kết tôn giáo để cùng nhau cải tạo thế giới quan tốt đẹp hơn.

4 -  Luật giác ngộ trong hình tướng Đạo đế vương:

+ Vua, quan phải xây dựng được quốc thái dân an, đời sống nhân dân ấm no, hòa bình, hạnh phúc, phải hi sinh lợi ích của mình để bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo vệ lợi ích của dân tộc;

+ Người dân phải đoàn kết dân tộc, hăng say lao động sản xuất, hi sinh trí tuệ và thân xác để bảo vệ dân tộc, phát triển quốc gia ngày càng cường thịnh.

Như vậy luật giác ngộ chính là phải đối mặt, hi sinh lợi ích ích kỷ của mình để mang lại niềm vui hạnh phúc, lợi ích cho mọi người và vạn vật trời người. Sự thấu hiểu khổ đau và chuyển hóa thành sự giác ngộ của mỗi tuệ linh hoặc chữ nhân luôn luôn gắn liền với 4 biểu hiện hình tướng đạo và phải gắn liền với cõi trần nhân sinh này. Nếu kiếp này ta chưa giác ngộ được khổ đau, kiếp nạn mà ta đang sống trong nó thì kiếp sau ta sẽ phải lặp lại kiếp nạn khổ đau đó. Do đó đã là bể khổ rồi thì chúng ta hãy cố gắng hi sinh lợi ích kỷ của mình để mang lại niềm vui và hạnh phúc cho mọi người. Đó là giác ngộ.

 

5. Toàn cảnh cõi trời Địa Phủ và hành trình luân hồi sau khi thoát tục cõi trần

Cõi trời địa Phật hay còn gọi là Địa phủ. Cõi trời địa Phật cũng giống như là một hành tinh, giống như Trái đất mà con người đang sinh sống. Gọi là cõi trời địa Phật vì nó là một cõi trời của dòng đạo Phật, đạo Thiên chúa giáo cũng có cõi trời Địa phủ của dòng đạo họ, đạo Hồi cũng có cõi trời Địa phủ của dòng đạo họ. Cõi trời này rất xa trái đất, con người không thể dùng phương tiện để di chuyển đến được.

Địa phủ được ví như là quán trọ đêm cho hành giả nghỉ ngơi, dưỡng sức, đúc kết kinh nghiệm sau một ngày vất vả trên hành trình đi tìm sự giác ngộ viên mãn. Trên hành trình đi tìm sự giác ngộ viên mãn, hành giả sẽ phải trải qua nhiều kiếp tu hành, mỗi kiếp tu hành cũng được ví như là một ngày hành giả đi đường vất vả, và khi hành giả thoát tục cõi trần trở về Địa phủ thì Địa phủ được ví như là quán trọ đêm cho hành giả sau một ngày vất vả. Cõi trời Địa phủ cũng được hiểu là cõi tạm cho hành giả trên con đường tu hành trong vô lượng kiếp trên nhân gian.

Cội nguồn của cõi trời Địa phủ

Cõi trời Địa phủ được hình thành sau khi Đức Phật Thích Ca truyền được chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ xuống nhân gian, sau khi ngài và các vị đệ tử của ngài nhập diệt trở về, có nhiều vị đệ tử của ngài đắc phẩm vị Phật và phẩm vị Bồ tát. Vì thấy có nhiều Tuệ linh chuyển hóa được tầng năng lượng trong tâm để duy trì phát triển sự sống nên Đấng tạo hóa đã tạo ra sự sống ở một cõi trời mới, gọi là cõi trời Địa phủ, ngài lập ra các cảnh sống, lập ra mô hình bộ máy quản lý cho cõi trời Địa phủ. Đức Phật Thích Ca lập ra phương pháp giáo hóa bằng Chân tâm cho các Tuệ linh và linh hồn sau khi thoát tục cõi trần trở về Địa phủ để tu tập trước khi luân hồi trên nhân gian.

Sau khi Đấng tạo hóa và Đức Phật Thích Ca tạo lập sự sống và mô hình cũng như phương pháp giáo hóa cho cõi trời Địa phủ, có rất nhiều các Tuệ linh đã đắc phẩm vị Phật và Bồ tát phát nguyện với hai ngài để trở về cõi trời Địa phủ quản lý và giáo hóa chúng sinh cõi trời đó bằng tầng năng lượng giác ngộ mà họ đã đạt được. Như vậy cõi trời Địa phủ do hai ngài tạo hóa ra, và các Tuệ linh là đệ tử của Đức Phật Thích Ca phát nguyện lực về cai quản và giáo hóa cõi trời đó. Các Tuệ linh cai quản cõi trời Địa phủ vì chưa đắc được bộ lọc năng lượng nên vẫn phải luân hồi xuống nhân gian để trải qua hết các kiếp nạn khổ đau để cải tạo thành công bộ lọc năng lượng viên mãn.

Đạo Thiên chúa cũng có cõi trời Địa phủ riêng, và để lập ra cõi trời Địa phủ của đạo Thiên chúa thì Đấng tạo hóa đã cùng ngài Jesu tạo lập ra mô hình và bộ máy quản lý cũng như phương pháp giáo hóa riêng theo giáo lý của dòng đạo Thiên chúa. Đạo Hồi cũng như vậy, họ cũng có cõi trời Địa phủ riêng và cũng là do Đấng tạo hóa cùng ngài Mohammed tạo lập ra.

Mục đích tạo lập cõi trời Địa phủ:

Việc các dòng đạo lập ra các cõi trời Địa phủ riêng nhằm dùng giáo lý giáo hóa cho các vong linh để họ nhận thức được việc họ đã tạo ra nghiệp lực trên nhân gian, giúp họ sám tâm với những nghiệp lực đã tạo ra. Thông qua các cảnh giới tại cõi trời Địa phủ để giúp cho các vong linh thấu hiểu được những nghiệp lực mà kiếp sau không vi phạm, thấu hiểu được việc hành thiện để kiếp sau tinh tấn việc hành thiện. Đặc biệt tại cõi trời Địa phủ là nơi tu luyện dưỡng nguyên khí cho các vong linh có đủ năng lượng dương để đảm bảo khi luân hồi họ có đủ sức mạnh để vượt qua các kiếp nạn khổ đau, nhanh chóng vượt qua hết các kiếp nạn khổ đau trong nhiều kiếp để đắc được bộ lọc năng lượng cho Tuệ linh hay linh hồn. Nếu không đảm bảo có năng lượng dương khí là nguyên khí đủ mạnh thì khi luân hồi làm người, họ dễ dàng chết yểu hoặc không đủ sức mạnh vượt qua được các kiếp nạn khổ đau.

Khi chưa có các dòng đạo, chưa có cõi trời Địa phủ nào, hoặc hiện nay chúng sinh không theo dòng đạo nào thì chúng sinh tu hành dưới nhân gian tùy theo nghiệp lực nhẹ hay nặng, tùy theo phước báo, tùy theo mức độ năng lượng nguyên khí bị suy giảm ít hay nhiều mà sẽ luân hồi thành súc sinh hay luân hồi làm người. Nếu chúng sinh tạo nghiệp nhẹ thì được luân hồi đầu thai làm người nếu năng lượng nguyên khí đủ mạnh, nếu chúng sinh tạo nghiệp nặng thì sẽ phải luân hồi đầu thai làm muông thú lành hiền để dưỡng lại nguyên khí và trả nghiệp lực cho việc tạo nghiệp kiếp làm người trước đó. Tất cả việc luân hồi đều do hội đồng biên bản luật của Đấng tạo hóa vận hành. Như vậy những chúng sinh không theo dòng đạo nào hiện nay, và những chúng sinh sống tại các kiếp quá khứ khi chưa có cõi trời Địa phủ thì họ sẽ không có cơ hội được tu luyện sám tâm, không có cơ hội được đúc kết kinh nghiệm tu hành sau một kiếp, họ không có cơ hội được luyện nguyên khí trước khi luân hồi. Do đó khi luân hồi kiếp mới họ sẽ không có kinh nghiệm bởi giáo lý giáo hóa mà nhanh chóng vượt qua được các kiếp nạn khổ đau.

Như vậy cõi trời Địa Phật là cõi trời do những vị Phật, Bồ tát dùng chân lý, giáo lý để giáo hóa các vong linh, trợ giúp cho các Tuệ linh và linh hồn có kinh nghiệm vượt qua các kiếp nạn khổ đau trên con đường tu hành ở nhân gian để nhanh chóng đắc được bộ lọc năng lượng viên mãn. Cõi trời Địa Phật tuy là cõi tạm cho hành giả trên hành trình tu hành trong vô lượng kiếp nhưng nó vô cùng quan trọng để giúp hành giả rút ngắn được hành trình tu hành để nhanh chóng đặc được Hoàn đạo viên mãn.

Cõi trời Địa phủ có 4 hội đồng quản lý và 3 cảnh sống để tiếp dẫn chúng sinh thoát tục cõi trần trở về Địa phủ tu luyện trong 3 cảnh sống để tiếp tục hành trình luân hồi đảo kiếp.

 I- 4 hội đồng quản lý cõi trời Địa phủ

Cõi trời địa Phật được lập ra 4 hội đồng quản lý để cai quản, tiếp dẫn, giáo hóa vong linh sau khi thoát tục cõi trần nhân sinh trở về Địa phủ tu luyện và luân hồi kiếp mới. Mỗi một hội đồng quản lý ở cõi trời Địa phủ có chức năng, nhiệm vụ riêng. Các hội đồng quản lý dưới Địa phủ vận hành và quản lý cõi trời này rất chặt chẽ bằng chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ của Đức A DI DI ĐÀ và Đức Phật Thích Ca. Đức A DI DI ĐÀ và Đức Phật Thích Ca sẽ sắc phong hoặc thay đổi các vị trí quản lý trong cõi trời Địa phủ khi các Tuệ linh cõi trời này có những thay đổi trên con đường tu hành cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

a) Hội đồng Hoàn đạo

Đây là hội đồng quản lý tối cao nhất ở cõi trời Địa Phật. Hội đồng Hoàn đạo là những vị Phật quản lý và vận hành toàn bộ cõi trời Địa Phật.

Hội đồng Hoàn đạo là nơi các vị phật an trụ và quản lý. Trong hội đồng hoàn đạo thì Tuệ linh nào có chân tu cao nhất do quá trình tu hành dưới nhân gian đạt được sự giác ngộ và cải tạo thế giới quan tốt nhất sẽ được sắc phong vào vị trí quản lý cả cõi trời này. Danh hiệu là Nguyên Linh Địa Phật, nhân gian hay gọi là ngài Diêm Vương. Nguyên Linh Địa Phật chính là danh hiệu cho vị trí quản lý cõi trời địa phật.

Nhiệm vụ của hội đồng Hoàn đạo:

+ Lưu giữ sổ sinh và sổ tử của chúng sinh trên nhân gian, ghi chép tất cả nghiệp lực và phước báo của chúng sinh trong nhiều đời nhiều kiếp tu hành;

+ Tra xét, xét xử, luận công tội của chúng sinh khi thoát tục cõi trần nhân sinh trở về Địa phủ;

+ Giáo hóa, giảng dạy giáo lý của chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ cho vong linh, đây gọi là phổ độ vong linh;

+ Phổ độ thuyết pháp cho vong linh khi con cháu trên nhân gian dùng tâm thành kính đảnh lễ cứu độ gia tiên dòng họ dưới Địa phủ.

b) Hội đồng quan ngũ quỷ thần

Đây là hội đồng quản lý đứng thứ hai ở cõi trời Địa phủ, thực thi nhiệm vụ quản lý dưới sự điều hành của hội đồng Hoàn đạo.

Hội đồng quan ngũ quỷ thần chính là hội đồng các vị Bồ tát. Hội đồng này làm việc dựa trên sổ tử và dưới sự điều hành của hội đồng Hoàn đạo để thực thi nhiệm vụ để đi bắt chúng sinh thoát tục cõi trần không phải tuân theo tuổi thọ hay cung số đã định trong sổ tử.

Nhiệm vụ của hội đồng quan ngũ quỷ thần:

+ Tiền trảm hậu tấu đối với chúng sinh tạo nghiệp nặng, tức là đi bắt chúng sinh tạo nghiệp nặng trở về Địa phủ mà không cần chờ đến hết cung số, không phải báo cáo trước với hội đồng Hoàn đạo;

+ Thực thi lệnh theo sổ tử để tiếp dẫn chúng sinh tạo nhiều nghiệp từ kiếp trước mà kiếp này chưa gột rửa được nghiệp lực trở về Địa phủ. Ví dụ kiếp trước giết người ở tuổi 25, kiếp này hết 25 tuổi mà chưa cứu người để gột rửa nghiệp thì sẽ bị bắt về, khi đó sẽ bị tai nạn hoặc bị người khác giết;

+ Đi bắt các vong linh của chúng sinh chết đường, chết chợ, chết do tai nạn, chết do đột tử trở về Địa phủ;

+ Đặc điểm chung của hội đồng quan ngũ quỷ thần là bắt vong linh của chúng sinh thoát tục cõi trần trước tuổi 73 và chưa đến cung số đã định trong sổ tử do nghiệp lực từ kiếp trước và hiện kiếp quá nặng. Vì nếu chúng sinh đạt được mốc 73 tuổi và đến cung số theo sổ tử thì khi thoát tục cõi trần sẽ do hội đồng quan hành sai tiếp đón về Địa phủ. Mốc tuổi thọ từ 73 tuổi trở đi là đạt tuổi thọ trên dương gian.

c) Hội đồng quan hành sai

Đây là hội đồng quản lý đứng thứ ba ở cõi trời Địa phủ, thực thi nhiệm vụ quản lý dưới sự điều hành của hội đồng Hoàn đạo.

Hội đồng quan hành sai là hội đồng các vị Bồ tát. Hội đồng này làm việc dựa trên sổ tử và dưới sự điều hành của hội đồng Hoàn đạo để thực thi nhiệm vụ tiếp dẫn, đón tiếp vong linh của chúng sinh thoát tục cõi trần nhân sinh tuân theo tuổi thọ và cung số đã định trong sổ tử.

Nhiệm vụ của hội đồng quan hành sai: thực thi nhiệm vụ tiếp dẫn, tiếp đón các vong linh thoát tục cõi trần khi đã đạt và vượt mốc tuổi thọ 73 tuổi và hết cung số theo sổ tử đã định. Việc đón tiếp và tiếp dẫn chúng sinh thoát tục cõi trần phải tuân thủ theo sổ tử đã định tuổi thọ để tiếp dẫn về. Khi tiếp dẫn về sẽ giao cho hội đồng hoàn đạo tra xét, xét xử công tội. Có người thoát tục trước 73 tuổi nhưng do đến cung số đã định trong sổ tử, nên hội đồng quan hành sai sẽ đi tiếp dẫn, đón tiếp vong linh về Địa phủ.

d) Hội đồng quan hành chính

Đây là hội đồng quản lý đứng thứ tư ở cõi trời Địa phủ, thực thi nhiệm vụ quản lý dưới sự điều hành của hội đồng Hoàn đạo.

Hội đồng quan hành chính là các vị Bồ tát. Hội đồng này làm việc dựa trên sự điều hành của hội đồng Hoàn đạo trong việc quản lý các cảnh sống và quản lý sự vận hành bộ máy quản lý của cả cõi trời Địa phủ.

Nhiệm vụ của hội đồng quan hành chính:

+ Quản lý cửa khẩu âm dương, cửa khẩu âm dương là người trên dương gian sau khi thoát tục cõi trần đi về Địa phủ và vong linh dưới Địa phủ lên luân hồi trên nhân gian;

+ Quản lý vận hành các cửa ngục trong cảnh sống địa ngục Ngã quỷ;

+ Quản lý vận hành cảnh sống âm, quản lý vong linh gia tiên của các dòng họ, quản lý cảnh sống lao động tự do, buôn bán, mưu sinh ở cảnh âm;

+ Quản lý cảnh sống địa phật, đó là quản lý cảnh sống của các ngôi đồi âm đức của từng gia tiên dòng họ.

Các hội đồng hoạt động và thực thi nhiệm vụ chặt chẽ và khoa học dưới sự điều hành của ngài Nguyên Linh Địa Phật trong việc giáo hóa chúng sinh sau khi thoát tục cõi trần nhân sinh và quá trình luân hồi lên kiếp mới trên nhân gian.

II- Cõi trời Địa Phật có 3 cảnh sống

Để giáo hóa chúng sinh sau khi thoát tục cõi trần nhân sinh trở về Địa phủ biết nhìn nhận nghiệp lực đã tạo ra mà sám tâm, để có kinh nghiệm hành thiện cho kiếp sau, có kinh nghiệm vượt qua các kiếp nạn khổ đau ở kiếp sau, để luyện nguyên khí đảm bảo cho kiếp mới có sức mạnh của tâm để nhanh chóng tu hành đắc được bộ lọc năng lượng thì ngài Ngũ Âm Hóa Đồng đã tạo ra cõi trời Địa phủ với 3 cảnh sống khác nhau. Ba cảnh giới hay còn gọi là 3 cảnh sống ở cõi trời Địa phủ tương ứng với nghiệp lực, phước báo, sự giác ngộ của chúng sinh trên nhân gian mà khi thoát tục cõi trần sẽ an trụ ở cảnh giới tương ứng.

Cõi trời Địa Phật không có ngày và đêm, các cảnh giới có các tầng năng lượng khác nhau là do năng lượng của nghiệp lực, năng lượng của chấp ngã và năng lượng giác ngộ của các vong linh hay Tuệ linh ở mỗi cảnh giới khác nhau mà tạo ra không gian sống có ánh sáng hay màn đêm khác nhau.

a)     Cảnh sống Địa ngục - Ngã quỷ

Cảnh sống địa ngục - Ngã quỷ là cảnh sống dành cho các vong linh khi còn sống trên nhân gian tạo nghiệp lực. Khi thoát tục cõi trần sẽ phải đọa vào 7 đại cửa ngục a tỳ trong cảnh sống địa ngục - Ngã quỷ.

Cảnh sống địa ngục - Ngã quỷ do là cảnh sống của những vong linh khi sống tạo nghiệp lực trên nhân gian, mà nguồn gốc của nghiệp lực là Ngã quỷ, đó là chấp ngã, sân và hận. Cho nên không khí trong cảnh sống địa ngục và Ngã quỷ bao trùm là màu xám tối, đen tối và màu đỏ máu nơi các vong linh bị giam giữ trong các cửa ngục. Tầng năng lượng xám tối, màu đen của nghiệp lực và tầng năng lượng màu đỏ của Ngã quỷ là tầng năng lượng xấu, do đó những hành giả tu thiền du linh xuống cảnh giới này nếu không có năng lượng tốt của màu trắng và màu vàng sẽ dễ bị nhiễm âm khí mà sinh khởi bệnh tật. Thậm chí có những hành giả thiền du linh vào cảnh Ngã quỷ dưới dịa phủ đã bị các Ngã quỷ giết hại, khi đó con cháu hoặc người thân tưởng người đó đột tử mà chết. Để thiền du linh xuống các cửa ngục và các cửa Ngã quỷ thì hành giả phải có tầng năng lượng tốt trong tâm mới có thể an toàn đi tham quan các cảnh giới nơi Địa phủ.

Trong 7 đại cửa ngục a tỳ sẽ chia ra làm 6 đại cửa ngục dành riêng cho dòng người Nhân mệnh được hóa thân từ linh hồn của muông thú và một đại cửa ngục dành riêng cho dòng người Thiên ấn là hóa thân của các Tuệ linh. Tổng có 72 cửa ngục nhỏ từ 7 đại cửa ngục lớn. Cửa ngục của dòng người Nhân mệnh gọi là cửa địa ngục với 6 đại cửa lớn và tổng là 54 cửa ngục nhỏ. Cửa ngục của dòng người Thiên ấn là cửa Ngã quỷ với một đại cửa Ngã quỷ lớn và tổng là 18 cửa Ngã quỷ nhỏ.

Ngoài ra còn có những phòng tạm giam vong linh trong vòng 49 ngày sau khi thoát tục cõi trần để chờ đến ngày thứ 49 trên nhân gian sẽ xét xử, luận công tội mà phân vào các cảnh sống khác nhau. Có những phòng giam dành riêng cho những vong linh thoát tục cõi trần do nghiệp lực nhưng chưa đến cung số đã định, sẽ phải bị tạm giam đến khi đến cung số đã định trên nhân gian mới được đưa ra xét xử công tội, sau đó mới phân vào các cửa địa ngục - Ngã quỷ khác nhau. Ví dụ có người được hưởng dương thọ là 80 tuổi, nhưng do nghiệp lực từ kiếp trước và kiếp này không gột rửa được nghiệp lực, đến 60 tuổi bị yêu tinh giết chết, do đó quan ngũ quỷ thần về dẫn giải vong linh xuống phòng giam giữ, tránh yêu tinh khống chế vong linh theo chúng. Và phải chờ 20 năm sau khi được 80 tuổi theo nhân gian thì hội đồng hoàn đạo mới xét xử luận công tội mà phân vào các cửa ngục khác nhau.

Sáu đại cửa địa ngục cho dòng người Nhân mệnh:

Sáu đại cửa địa ngục giam giữ vong linh sau khi thoát tục cõi trần, trải qua 49 ngày tạm giam và xét xử vào ngày 49, khi vong linh sống trên nhân gian mà phạm vào các nghiệp lực nhóm tội tương ứng sẽ phải đọa vào các cửa ngục khác nhau. Nếu vong linh phạm nhiều nghiệp lực thì sẽ phải trải qua hết tất cả các cửa ngục cho đến khi nào vong linh nhận thức và sám tâm được nghiệp lực mình đã tạo thì mới được chuyển sang cảnh sống địa âm. Các cửa địa ngục được sắp xếp từ nhẹ đến nặng như sau:

1- Cửa địa ngục lao động khổ sai:

+ Trong cửa lao động khổ sai được chia ra làm 9 cửa nhỏ, mỗi cửa tương ứng với nhóm tội mà khi sống vong linh đã gây ra;

+ Cảnh sống trong cửa ngục lao động khổ sai là hình ảnh các vong linh phải lao động khổ sai, khuân vác, đập đá, lao động cật lực không được ăn uống gì khi mà chân tay bị xiềng xích và bị hình ảnh quỷ đánh đập;

+ Khi sống trên nhân gian mà tạo các nghiệp lực sau thì vong linh sẽ phải đọa vào cửa địa ngục lao động khổ sai: lười lao động; chửi rủa đánh đập người lao động, chà đạp nhân phẩm người lao động; bóc lột, chiếm đoạt sức lao động của người khác.

2- Cửa địa ngục hành xác:

+ Trong cửa địa ngục hành xác được chia ra làm 9 cửa nhỏ, mỗi cửa tương ứng với nhóm tội mà khi sống vong linh đã gây ra;

+ Cảnh sống trong cửa ngục hành xác là một khu vực gồm các con mãng xà, con trăn, con rắn, con thú khổng lồ. Những vong linh bị ném hay vứt vào trong đó. Những con ác thú đó trườn, truy đuổi cắn xé thân xác của các vong linh. Cảnh tượng này không ngừng nghỉ và diễn ra liên tục trong thời gian rất dài;

+ Khi sống trên nhân gian mà tạo các nghiệp lực sau thì  vong linh sẽ phải đọa vào cửa địa ngục hành xác: nói dối gây thiệt hại về của cải, sức khỏe và tính mạng người khác; tội lừa đảo; tội trộm cướp; tội chiếm đoạt tài sản người khác.

3- Cửa địa ngục lao tối lạnh giá:

+ Trong cửa địa ngục lao tối lạnh giá được chia ra làm 9 cửa nhỏ, mỗi cửa tương ứng với nhóm tội mà khi sống vong linh đã gây ra;

+ Cảnh sống trong cửa ngục lao tối lạnh giá là hình ảnh đêm tối lạnh giá, có mưa, có tuyết rơi, những vong linh bị những mũi tên băng bay xuyên vào tim, những vong linh hoảng loạn chạy trong đêm tối lạnh giá và bị các con thú khổng lồ truy đuổi để cắn xé ăn thịt, những vong linh không mặc quần áo bị treo trên cột và bị những con thú nhảy lên ăn thịt. Khi các vong linh chết rồi lại tỉnh lại và lại bị truy giết đến chết rồi lại tỉnh lại, quá trình này lặp đi lặp lại trong khoảng thời gian rất dài;

+ Khi sống trên nhân gian mà tạo các nghiệp lực sau thì vong linh sẽ phải đọa vào cửa địa ngục lao tối lạnh giá: hành nghề sát sinh; giết hại muông thú làm thú vui; thông dâm, tà dâm, hiếp dâm; chửi rủa, đánh đập người khác; chà đạp nhân phẩm người khác.

4- Cửa địa ngục hành hình:

+ Trong cửa địa ngục hành hình được chia ra làm 9 cửa nhỏ, mỗi cửa tương ứng với nhóm tội mà khi sống vong linh đã gây ra;

+ Cảnh sống trong cửa ngục hành hình là hình ảnh ngũ quỷ phanh thây, cảnh vong linh bị truy đuổi và giết chết, cảnh bị đẩy xuống vực sâu mà chết, cảnh bị đập vào đầu mà chết, cảnh bị giết chết và phanh xác… Cảnh vong linh bị giết lặp đi lặp lại nhiều lần trong thời gian rất dài;

+ Khi sống trên nhân gian mà tạo các nghiệp lực sau thì vong linh sẽ phải đọa vào cửa địa ngục hành hình: giết hại người khác; giết hại chính mình.

5- Cửa địa ngục hỏa thiêu:

+ Trong cửa địa ngục hỏa thiêu được chia ra làm 9 cửa nhỏ, mỗi cửa tương ứng với nhóm tội mà khi sống vong linh đã gây ra;

+ Cảnh sống trong cửa ngục hỏa thiêu sẽ thấy cảnh vong linh sẽ thấy bị quỷ đuổi bắt và ném vào vạc dầu mà chết cháy, bị quỷ ném vào núi lửa mà chết cháy, bị đốt chết, bị mũi tên lửa bắn vào mà chết. Vong linh bị hỏa thiêu chết đi sống lại trong thời gian rất dài;

+ Khi sống trên nhân gian mà tạo các nghiệp lực sau thì vong linh sẽ phải đọa vào cửa địa ngục hỏa thiêu: đánh đập, giết hại cha mẹ; đánh đập, giết hại thầy dạy.

6- Cửa địa ngục băng giá:

+ Trong cửa địa ngục băng giá được chia ra làm 9 cửa nhỏ, mỗi cửa tương ứng với nhóm tội mà khi sống vong linh đã gây ra;

+ Cảnh trong cửa ngục băng giá thì được coi là án tử cho các vong linh, vong linh sẽ bị chết và đóng băng vĩnh viễn trong núi băng, trong dòng sông băng, trong tảng băng;

+ Khi sống trên nhân gian mà tạo các nghiệp lực sau thì vong linh sẽ phải đọa vào cửa địa ngục băng giá: bán nước hại dân, tham ô tham nhũng, kích động chiến tranh; kích động xung đột dân tộc, tiết lộ bí mật quốc gia, phản bội tổ quốc.

Những người Nhân mệnh nếu vi phạm vào chửi rủa thiên địa, chửi rủa Thánh thần, Phật, Bồ tát, phá đình chùa, phá mồ mả gia tiên thì sẽ phải đọa hết tất cả lần lượt 6 đại cửa địa ngục rồi mới được chuyển sang sống cảnh âm.

Một đại cửa Ngã quỷ dành cho dòng người Thiên ấn:

+ Trong cửa Ngã quỷ dành cho dòng người Thiên ấn là các Tuệ linh trên các cõi trời xuống nhân gian tu hành tạo nghiệp lực thì sẽ bị đọa vào trong cửa ngục đặc biệt này. Cửa Ngã quỷ được cõi trời Địa phủ quản lý và dùng các tầng năng lượng của sự giác ngộ để giúp cho họ nhanh chóng thấu hiểu nghiệp lực mà chuyển hóa tâm;

+ Cửa Ngã quỷ bao gồm 18 cửa nhỏ: cửa lao động khổ sai có 3 cửa nhỏ; cửa hành xác có 3 cửa nhỏ; cửa lao tối lạnh giá có 3 cửa nhỏ; cửa hành hình có 3 cửa nhỏ; cửa hỏa thiêu có 3 cửa nhỏ; cửa băng giá có 3 cửa nhỏ. Cảnh các cửa ngục của dòng người Thiên ấn đều giống như các cửa ngục của dòng người Nhân mệnh. Cửa Ngã quỷ chỉ khác so với cửa địa ngục là mức độ chịu hình phạt nặng hơn, sự giam giữ nghiêm ngặt hơn vì các Ngã quỷ do nghiệp lực mà hóa thành quỷ nên bản tính rất nguy hiểm. Khi các Tuệ linh bị đọa trong các cửa ngục này thì họ sẽ hóa thành quỷ và ăn thịt, giết hại nhau, khi sống lại họ lại lặp đi lặp lại hành động tạo nghiệp khi còn sống trên nhân gian;

+ Cửa băng giá của dòng người Thiên ấn sẽ không bị hoại diệt Tuệ linh như cửa địa ngục của dòng người Nhân mệnh.

Những người Thiên ấn nếu vi phạm vào chửi rủa thiên địa, chửi rủa Thánh thần, Phật, Bồ tát, phá đình chùa, phá mồ mả gia tiên thì sẽ phải đọa hết tất cả lần lượt 18 cửa ngục trong Ngã quỷ rồi mới được chuyển sang sống cảnh âm.

Tất cả các cửa ngục mà có hình ảnh quỷ đuổi giết vong linh hay Tuệ linh, hình ảnh các con thú dữ giết hại vong linh hay Tuệ linh, hình ảnh có người đánh đập tra tấn vong linh hay Tuệ linh đều không phải là các ngài, và cũng không phải có quỷ hay dã thú nào hết. Do nghiệp lực khi sống trên nhân gian mà năng lượng trong tâm họ tích tụ gốc của nghiệp lực là chấp ngã, sân, hận thù, và khi về dưới Địa phủ, bằng thần lực của các vị Phật và Bồ tát đã tạo ra sự phản chiếu ảo ảnh từ chính tâm của các vong linh hay Tuệ linh mà họ tưởng rằng bị quỷ, quái thú truy giết. Đó là cách lấy chính Tâm ngã quỷ và hành động tạo nghiệp của các vong linh và Tuệ linh khi còn sống trên nhân gian mà tạo ra ảo ảnh để răn đe họ kiếp sau không hành động tạo nghiệp nữa, và cũng là thấu hiểu những khổ đau mà họ gây ra cho chúng sinh khác.

Tất cả các cảnh tra tấn, truy giết sẽ bị tiêu tan, vong linh và Tuệ linh sẽ thoát ra khỏi các cửa ngục nếu họ thấu hiểu nghiệp lực và định tâm, rồi nguyện tu hành theo chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ của ngài A DI DI ĐÀ và Đức Phật Thích Ca thì họ sẽ được chuyển sang cảnh âm và được đi học đạo ở cõi trời địa Phật.

Khi các vong linh và Tuệ linh đang bị đọa trong Địa ngục - Ngã quỷ thì họ tuyệt đối không thể nhận những lễ vật gì do con cháu trên nhân gian cúng lễ dâng tiến. Mỗi năm có 3 ngày được ngài Nguyên Linh đại xá cho vong linh và Tuệ linh về nhân gian thăm con cháu và nhận lễ vật do con cháu cúng lễ dâng tiến đó là ngày 13, 14, 15 tháng 7 Âm lịch. Thông qua 3 ngài đại xá này, các chư vị Phật và Bồ tát muốn các vong linh và Tuệ linh về nhắn nhủ con cháu hãy hành thiện giúp người, phổ độ gia tiên được siêu thoát khỏi cảnh địa ngục - Ngã quỷ. Khi mỗi dòng họ hay gia đình mà có vong linh bị đọa trong các cửa ngục thì gọi là động âm, tức là vong linh bị động tâm, chưa định thần nên con cháu sẽ không được yên theo do năng lượng của gia tiên tác động vào mong con cháu phổ độ gia tiên siêu thoát khỏi cảnh địa ngục - Ngã quỷ. Khi mỗi dòng họ mà có nhiều vong linh bị đọa trong các cửa ngục - Ngã quỷ thì trên dương gian con cháu sẽ gặp nhiều khó khăn trở ngại trong cuộc sống, thậm chí có nhiều người chết trẻ, đây là nghiệp cửu trùng của cả người sống và người đã chết trong dòng họ đó tích tụ lại mà nhận quả báo.

b)    Cảnh sống địa âm

Đối tượng vong linh, Tuệ linh được sống cảnh địa âm:

+ Cảnh sống địa âm là cảnh sống dành cho các vong linh khi sống trên dương gian không vi phạm hay tạo nghiệp lực gây tổn thương cho chúng sinh trời người;

+ Vong linh hay Tuệ linh khi sống tuy không tạo nghiệp lực những vẫn còn chấp ngã, sân, hận nên phải sống trong cảnh sống địa âm;

+ Các vong linh, Tuệ linh sau khi được siêu thoát khỏi các cửa ngục thì sẽ được chuyển sang sống cảnh âm để được lao động tự do và tu học các lớp giảng đạo Phật của hội đồng Hoàn đạo;

Tầng năng lượng của cảnh sống địa âm là màu xám sáng như chiều tối mà mặt trời đã lặn. Không khí và không gian ảm đạm và yên tĩnh. Sự ảm đạm và không gian tỏa năng lượng màu xám sáng là do các vong linh và Tuệ linh vẫn còn chấp ngã, sân, hận nên mới tỏa ra không gian như vậy.

Cảnh sống địa âm có:

+ Nhà tranh mái ngói, nhà tranh mái lá, mỗi ngôi nhà chỉ vài mét vuông. Không có nhà tầng, nhà lầu, xe hơi, xe máy, xe đạp hay bất kỳ phương tiện khoa học kỹ thuật nào ở cõi trời Địa phủ;

+ Có chợ quê, có cánh đồng lúa, có cảnh lao động tự do buôn bán và sản xuất nông nghiệp, có thầy đồ dạy học, có thầy bốc thuốc … có đồi núi và ao hồ;

+ Có ngân hàng hay còn gọi là kho khố Địa phủ. Các ngài ở hội đồng quan hành chính sẽ phát chẩn cho các vong linh được chuyển từ địa ngục - Ngã quỷ ra sống cảnh âm, vong linh thoát tục cõi trần được sống cảnh âm sau 49 ngày. Họ được cấp phát nhà cửa và công cụ lao động, tư trang quần áo và những đồ dùng cần thiết cho cuộc sống ở cảnh địa âm. Các vong linh hay Tuệ linh khi sống cảnh sống âm sẽ không nhận được bất cứ đồ lễ gì từ con cháu trên nhân gian cúng lễ, tiền vàng, nhà lầu, xe cộ… đều không thể gửi được đến cõi trời Địa phủ; hoặc khi con cháu dâng lễ thì vong linh cũng chỉ nhận dòng năng lượng hành thiện hay tạo nghiệp hoặc năng lượng chấp ngã của con cháu chứ không ăn hay thụ hưởng được đồ lễ;

Cảnh sống địa âm là dành cho các vong linh và Tuệ linh khi sống trên nhân gian có trí tuệ u mê mà chấp ngã, sân hận, nhưng chưa tạo nghiệp lực. Do đó khi thoát tục cõi trần nhân sinh trở về Địa phủ sống cảnh sống âm, họ cũng vẫn còn u mê và tâm vẫn còn chấp ngã. Các vong linh vẫn đòi hỏi con cháu cúng lễ nhiều, vẫn hay chấp nhặt người thân trên nhân gian. Sự chấp ngã lâu hay nhanh giác ngộ của vong linh và Tuệ linh lại phụ thuộc vào việc tu hành của con cháu và người thân trên dương gian.

Để các vong linh và Tuệ linh nhanh giác ngộ để chuyển sang cảnh sống địa phật thì con cháu trên nhân gian và vong linh, Tuệ linh ở cảnh địa âm phải thực hiện như sau:

+ Vong linh, Tuệ linh ngoài việc lao động, sinh hoạt ở cảnh sống địa âm sẽ phải tham gia các lớp học đạo, học giáo lý do hội đồng Hoàn đạo giảng dạy;

+ Con cháu trên nhân gian phải hành thiện giúp đỡ chúng sinh; làm lễ phổ độ gia tiên để hội đồng hoàn đạo thuyết pháp giảng giải cho cả gia tiên dưới Địa phủ; con cháu có khả năng thiền định xuống dưới Địa phủ nhờ hội đồng Hoàn đạo triệu tập gia tiên mà thuyết giảng chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ để giúp gia tiên được siêu thoát sang cảnh địa Phật; con cháu không đốt nhiều hoặc không đốt tiền vàng mã, vì các vong linh không thể nhận được thứ gì cả; không nên lễ bái cầu xin công danh hay tiền tài từ vong linh gia tiên, bởi họ đang cầu xin con cháu hành thiện để họ được nhận dòng năng lượng hành thiện đó mà giúp họ được siêu thoát sang cảnh địa Phật;

+ Khi con cháu trên nhân gian hành thiện, giúp đỡ chúng sinh thì năng lượng hành thiện đó sẽ được chuyển cho gia tiên khi ta tưởng nhớ, khi ta thắp hương tri ân gia tiên. Khi ta tri ân và thắp hương tưởng nhớ bằng tâm đức hành thiện có được sẽ giúp cho gia tiên dưới Địa phủ nhận được năng lượng đó mà gột rửa được chấp ngã. Khi đó các ngài dưới hội đồng quan hành chính sẽ phát chẩn nhiều cho gia tiên, nhưng vì gia tiên đã giác ngộ nên không nhận những đồ phát chẩn, họ sẽ được chuyển sang cảnh địa Phật để tu luyện dưỡng nguyên khí. Nhưng khi con cháu trên nhân gian làm nhiều việc ác, tạo ra nhiều ác nghiệp thì gia tiên dưới Địa phủ sẽ chấp vào đó mà không thể giác ngộ được, họ sẽ luẩn quẩn theo Tâm ngã quỷ của con cháu, luẩn quẩn theo nghiệp của con cháu. Cho dù con cháu trên nhân gian có đốt nhiều vàng mã, cúng lễ to đến mấy thì gia tiên không nhận được một thứ gì hết;

Tuệ linh và linh hồn tồn tại và phát triển dựa trên các dòng năng lượng chứ không phải là vật chất. Do đó nếu gia tiên nhận được các tầng năng lượng hành thiện tích đức từ con cháu thì họ sẽ nhanh giác ngộ mà siêu thoát lên kiếp người mới, nếu gia tiên nhận được các tầng năng lượng nghiệp lực từ con cháu thì họ sẽ đọa trong cửa ngục và cảnh âm lâu dài mà khó được giác ngộ để siêu thoát.

c)     Cảnh sống địa Phật

Đối tượng vong linh, Tuệ linh được sống cảnh địa Phật:

+ Các vong linh được chuyển từ cảnh địa âm sau khi học đạo và được giác ngộ không còn chấp ngã, sân, hận nữa;

+ Các vong linh khi sống trên nhân gian không có chấp ngã, sân, hận, không tạo nghiệp, giúp đỡ được nhiều người, nhưng chưa đắc các phẩm vị nên sau khi thoát tục cõi trần thì họ sẽ được chuyển sang cảnh địa Phật để tu luyện nguyên khí chờ ngày đầu thai làm người kiếp mới;

Cảnh sống địa Phật có các ngọn đồi thấp, thoai thoải, có nhiều cây xanh trùng trùng điệp điệp như bất tận. Mỗi một gia tiên dòng họ sẽ được sinh sống và tu luyện trên một ngọn đồi, được gọi là ngọn đồi âm đức của mỗi gia tiên dòng họ. Trong mỗi ngọn đồi âm đức thì mỗi một vong linh, Tuệ linh sẽ có các nấm đất rộng khoảng 1 mét vuông để ngồi hành thiền và nghe các vị Phật giảng đạo để luyện nguyên khí chờ ngày đầu thai kiếp mới.

Tầng năng lượng chung cho cảnh sống địa Phật là màu vàng nhạt bao trùm toàn bộ cảnh địa Phật. Tuy nhiên, mỗi một ngôi đồi của gia tiên dòng họ lại có tầng năng lượng khác nhau, có gia tiên dòng họ thì có khí vàng rực rỡ và cỏ cây xanh tốt, có gia tiên dòng họ thì chỉ có khí trắng và cỏ cây tươi tốt, có gia tiên thì có khí xám đen và đồi núi bị sạt lở, có gia tiên thì không có cỏ cây và khí thì màu đen đỏ.

Âm đức dòng họ gia tiên được thể hiện thông quá khí sắc năng lượng, sự tươi tốt của cây cối tại mỗi ngôi đồi âm đức. Dòng họ nào có âm đức tốt là ngôi đồi âm đức có khí vàng, trắng vàng, trắng, có cỏ cây xanh tốt, có nhiều cây cổ thụ. Dòng họ nào mà âm đức kém thì ngôi đồi âm đức bị sạt lở, khí màu xám, đen, đỏ, có cây không xanh tốt và không có cây cổ thụ. Dòng họ sắp đi đến diệt vong thì ngôi đồi âm đức có màu đỏ máu, đen nhiều, đồi âm đức bị sụt, cỏ cây bị cháy hoặc chết. Ngôi đồi nào có nhiều khí vàng thì dòng họ đó có các vị Phật hóa thân xuống và đang hành đạo rất tốt. Ngôi đồi nào có khí trắng và phớt vàng thì dòng họ đó có các vị Bồ tát hóa thân xuống đang hành đạo tốt. Ngôi đồi nào có khí sắc màu tím, màu hồng, màu xanh thì dòng họ đó có các bậc Thánh nhân hóa thân xuống cứu giúp dân tộc. Ngôi đồi nào có màu đỏ máu thì con cháu có người tâm hóa quỷ đang hại người, hại dân tộc, hại chúng sinh. Ngôi đồi nào có khí đen thì con cháu đang tạo nhiều nghiệp lực.

Thông qua ngôi đồi âm đức của gia tiên dòng họ mà biết được con cháu dòng họ đang hành thiện hay tạo nghiệp. Con cháu muốn giúp cho âm đức dòng họ được nâng cao và các vong linh gia tiên nhanh được siêu thoát thì con cháu phải hành thiện giúp người hoặc thiền định xuống Địa phủ giảng chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ để truyền sự giác ngộ đó gia hộ cho gia tiên nhanh siêu thoát.

III- Hành trình thoát tục cõi trần nhân sinh trở về Địa phủ và luân hồi kiếp mới

Hành trình một vòng luân hồi của một chữ nhân từ khi thoát tục cõi trần, trở về Địa phủ, sống trong các cảnh giới và luân hồi lên nhân gian đầu thai kiếp mới sẽ trải qua quy trình như sau:

Bước 1: Chữ Nhân là con người thoát tục cõi trần nhân sinh sẽ chia ra làm hai trường hợp:

+ Trường hợp 1, chữ Nhân thoát tục cõi trần nhân sinh đúng cung số bản mệnh đã định hoặc thoát tục cõi trần nhân sinh qua mốc 73 tuổi. Ở trường hợp này có biểu hiện khi thoát tục cõi trần nhân sinh là thoát tục ở nhà do tuổi già, do bệnh hoặc ở bệnh viện do bệnh;

+ Trường hợp 2, chữ Nhân thoát tục cõi trần chưa đến cung số bản mệnh đã định hoặc chưa đạt tuổi thọ 73 tuổi. Ở trường hợp này có biểu hiện khi thoát tục cõi trần nhân sinh là thoát tục do tai nạn, do đâm chém giết hại nhau, do chiến tranh, do đột tử dù ở nhà hay ở nơi khác.

Bước 2: Hội đồng quan hành sai sẽ tiếp đón vong linh ở trường hợp 1 của bước 1; hội đồng quan ngũ quỷ thần sẽ bắt vong linh ở trường hợp 2 của bước 1. Trường hợp thoát tục cõi trần nhân sinh do tự tử sẽ không được các ngài đón về Địa phủ. Có nhiều trường hợp do nghiệp nặng bị tinh tà bắt và chúng giam cầm các vong linh tại những nơi tai nạn thì cũng không được về Địa phủ.

Bước 3: Vong linh sẽ bị giam vào phòng tạm giam trong vòng 49 ngày để chờ xét xử công tội đã tạo ra khi sống trên nhân gian. Trong thời gian 49 ngày vong linh vẫn được các quan dẫn về nhà để quên đi nỗi nhớ người thân và thông báo cho người thân qua giấc mơ nếu nghiệp của vong linh nặng.

Bước 4: Xét xử vong linh ở ngày thứ 49 sau khi vong linh thoát tục cõi trần. Nếu vong linh tạo nghiệp nặng đều phải đọa vào 72 cửa ngục a tỳ. Nếu vong linh không tạo nghiệp lực nhưng còn chấp ngã thì sẽ được sống cảnh sống âm. Nếu vong linh không tạo nghiệp, không chấp ngã, có sự giác ngộ và hành thiện thì sẽ được sống cảnh địa Phật. Trường hợp vong linh khi sống mà thoát tục chưa đến cung số bản mệnh thì sẽ phải bị giam giữ cho đến tuổi thọ đã định thì mới đưa ra xét xử. Ví dụ cung số định tuổi thọ là 80 tuổi, nhưng bị đột tử ở tuổi 60, do đó sẽ mất 20 năm tính theo dương gian bị giam cầm đến khi thọ 80 mới đưa ra xét xử.

Bước 5: Chuyển vong linh vào các cảnh sống tương ứng với nghiệp lực hay phước báo khi còn sống trên nhân gian.

Vong linh sẽ phải đọa vào các cửa ngục Ngã quỷ do nghiệp lực tạo ra khi còn sống trên nhân gian.

Vong linh sẽ được sống cảnh âm sau khi vượt qua thời gian đọa trong cửa ngục hoặc sau 49 ngày thoát tục được sống cảnh địa âm.

Vong linh sẽ được sống cảnh địa Phật tu luyện chờ ngày đầu thai do được chuyển từ cảnh sống địa âm sang, hoặc sau 49 ngày thoát tục do phước báo mà được sống cảnh địa Phật.

Bước 6: Được luân hồi lên kiếp mới. Sau thời gian tu luyện trong cảnh địa Phật đạt được dòng năng lượng dương khí đảm bảo duy trì cho thân tướng trên nhân gian thì các vong linh sẽ được luân hồi. Tùy theo nghiệp lực khi sống mà vẫn phải đọa thành súc sinh, tùy theo phước báo mà được luân hồi làm người.

Do năng lượng của chúng sinh khi sống trên nhân gian có chấp ngã, sân hận, tạo nghiệp lực, phước báo chưa nhiều nên sau khi thoát tục thì Tuệ linh hoặc linh hồn chưa thể định thần, không đủ năng lượng để đi về các cõi. Do đó cõi trời Địa phủ đã có các hội đồng thực thi nhiệm vụ hỗ trợ các vong linh nhanh chóng đi được vào quy trình của vòng luân hồi. Đồng thời giảm thiểu các Tuệ linh hoặc linh hồn bị quỷ đến bắt sau khi chân tu thoát tục cõi trần nhân sinh.

Dù là sau một vòng luân hồi, chữ Nhân đọa thành súc sinh hay tiếp tục làm người thì đó là quy trình tuần hoàn để các Tuệ linh và linh hồn cần phải nhanh chóng trải qua. Bởi thông qua các khổ đau và kiếp nạn thì các Tuệ linh và linh hồn mới có cơ hội cải tạo Trụ linh của Tuệ linh thành bộ lọc năng lượng. Do đó sau khi vong thoát tục cõi trần nhân sinh, vong linh không được về Địa phủ để đúng quy trình luân hồi thì con đường tu hành của họ trong vô lượng kiếp còn dài. Bởi có những Tuệ linh sau khi thoát tục cõi trần vì nghiệp lực tự tử, khi thiền định gặp họ đang đọa trong điền thổ đất thì họ đã trải qua gần 1000 năm. Như vậy việc luân hồi của họ bị gián đoạn quá lâu. Việc các thầy pháp, thầy tu, hành giả dùng pháp thuật giữ vong để thực hiện mục đích riêng là đang tạo nghiệp cho chính họ và tạo nghiệp gây cho các vong linh không được đi đúng theo quy trình luật luân hồi.

Khi các hành giả đắc các phẩm vị từ bậc Thánh nhân đến quả Phật do giác ngộ thì sẽ không phải trở về Địa phủ sau khi thoát tục cõi trần. Họ sẽ được trở về trên các cõi trời mà họ xuống để luyện nguyên thần và tiếp tục xuống tu hành. Khi họ thoát tục cõi trần nhân sinh sẽ được tứ trụ nguyên thần trên các cõi trời đó xuống đón về.

IV- Phương pháp hóa độ cho vong linh nhanh luân hồi đảo kiếp sau khi thoát tục cõi trần nhân sinh

Hóa độ chính là siêu thoát cho vong linh sau khi thoát tục cõi trần nhân sinh để nhanh chóng được luân hồi đảo kiếp. Siêu thoát sẽ có 4 mức độ như sau:

Mức độ 1: Siêu thoát về Địa phủ sau khi thoát tục cõi trần nhân sinh. Ở mức độ này chỉ cần vong linh được trở về Địa phủ, dù là trong cửa ngục Ngã quỷ thì cũng đã là được siêu thoát về Địa phủ. Bởi có nhiều vong linh bị đọa trên nhân gian vì nhiều nguyên nhân nên không được trở về Địa phủ, họ không thể bước được vào vòng luân hồi để tiếp tục tu hành cải tạo Tuệ linh. Dù là vào địa ngục Ngã quỷ thì cũng là đã được vào quy trình luân hồi, nên cũng coi là điều tốt ban đầu.

Mức độ 2: Siêu thoát khỏi cảnh địa ngục - Ngã quỷ ở dưới Địa phủ sang cảnh sống âm. Đó là đẩy nhanh tốc độ giúp vong linh thấu hiểu nghiệp lực đã tạo trên nhân gian khi sống, giúp vong linh nhanh chóng định thần để tâm không còn bấn loạn mà bị tra tấn hành hình nữa.

Mức độ 3: Siêu thoát khỏi cảnh địa âm để sang cảnh địa Phật. Đó là đẩy nhanh quá trình diệt chấp ngã của vong linh để chuyển sang cảnh tu luyện nguyên thần, chờ ngày luân hồi đầu thai kiếp mới.

Mức độ 4: Siêu thoát khỏi cõi trời địa Phật để luân hồi lên kiếp mới. Dù có đầu thai thành súc sinh hay tiếp tục làm người thì vẫn là rất tốt và đáng mừng, vì họ đang được bước những bước dài trên con đường tu hành, phải trải qua nhiều kiếp để cải tạo được bộ lọc năng lượng viên mãn cho Tuệ linh hay linh hồn.

Phương pháp hóa độ cho vong linh sau khi thoát tục cõi trần nhanh được luân hồi sang kiếp mới:

+ Mỗi chúng sinh khi còn sống nên học tập, nghiên cứu chân lý vạn vật, chân lý giác ngộ, rời xa nghiệp lực và hành thiện giúp người. Sau thoát tục cõi trần sẽ được sống cảnh địa Phật và luân hồi ngay. Cứ đạt được các thành tựu đó thì chỉ cần vài kiếp tinh tấn tu hành sẽ đắc được bộ lọc năng lượng cho Tuệ linh để trở về với phẩm vị Phật vị và quả Không;

+ Mỗi chữ Nhân là bậc con cháu, nên học tập nghiên cứu chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ để thiền định đến cõi trời Địa phủ thuyết pháp cho gia tiên trong tất cả các cảnh giới để gia tiên nhanh được siêu thoát từng cảnh giới. Nếu không có khả năng thuyết pháp thì dùng Chân tâm tấu thiên địa và nhờ hội đồng hoàn đạo ở cõi trời Địa phủ giảng đạo cho gia tiên;

+ Con cháu trên nhân gian phải hành thiện, không hành nghề tạo nghiệp thì sẽ thúc đẩy cho gia tiên nhanh định thần và giác ngộ để siêu thoát các cảnh giới.

Như vậy cõi trời địa Phật là cõi trời của chư vị Phật và chư vị Bồ tát giáo hóa vong linh của chúng sinh sau khi thoát tục cõi trần nhân sinh. Đây là cõi trời cần phải đến để cho trời người tu hành dưới nhân gian nhanh chóng có kinh nghiệm vượt qua được các kiếp nạn khổ đau, nhanh chóng hoàn thành các kiếp tu hành với việc đắc được bộ lọc năng lượng. Cõi trời địa Phật là cõi trời nghiêm minh của thực thi luật nhân quả và cũng là cõi trời của tâm từ bi vô lượng. Các ngài đã tạo ra và gieo vô số duyên để trợ giúp cho chúng sinh và vong linh nhanh đạt được sự giác ngộ. Do đó chúng sinh phải thấu hiểu và cùng hợp duyên với các ngài ở cõi trời Địa phủ, dẫn dắt và cứu giúp hết thảy trời người vượt qua hết các kiếp nạn khổ đau bằng hai chân lý của Đức Ngũ Âm Hóa Đồng.

 

 6. Bài thần chú Tịnh Độ Tâm

Sự hợp nhất phát nguyện lực của chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ chính là sự hợp nhất giữa ngài A DI DI ĐÀ và Đức Phật Thích Ca để thành danh hiệu mới “Đức Ngũ Âm Hóa Đồng”, đó là sự kết hợp giữa hai chân lý để tạo ra câu thần chú niệm danh hiệu của hai chân lý nhiệm màu vô lượng. Đó là thần chú “Tịnh độ tâm”. Câu niệm:

Nam mô A DI DI ĐÀ Phật”

a) Căn nguyên hình thành câu thần chú

Như đã biết Đấng tạo hóa có danh hiệu gốc là A DI DI ĐÀ, ngài đã sáng tạo ra luật nhân quả, chính là chân lý vạn vật để bảo vệ dòng chảy xuyên suốt của quy luật tự nhiên là duy trì phát triển sự sống khắp cõi trời trong vũ trụ. Do đó khi nghĩ đến ngài A DI DI ĐÀ thì nghĩ ngay đến luật nhân quả, chân lý vạn vật. Ngài đã tạo hóa ra vạn vật, tạo ra môi trường tu hành dưới nhân gian để cho các tuệ linh khắp các cõi trời hóa thân xuống tu hành tìm ra con đường Đạo để cải tạo trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhằm xây dựng và bảo vệ sự sống khắp vũ trụ. Do đó ngài A DI DI ĐÀ là hình tướng của Đạo, ngài chính là vạn vật vũ trụ, vạn vật vũ trụ là ngài, ngài là nhân quả, nhân quả là ngài. Trí tuệ của ngài là trí tuệ bậc nhất trong tất cả các tuệ linh trời người, không có gì vượt qua khỏi luật nhân quả của ngài.

Kiếp trước của Đức Phật Thích Ca sinh ra trong dòng họ Thích Ca, ngài là một vị vua anh minh, ngài đã giác ngộ được chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ để trị vì quốc gia đó được quốc thái dân an bằng hai chân lý. Ngài là người đầu tiên trong vô số tuệ linh trời người tìm ra và thấu hiểu được chân lý vạn vật của Đấng tạo hóa, và ngài lại giác ngộ được chân lý giác ngộ để cải tạo được trụ linh của mình thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Do đó sau khi ngài nhập diệt ở kiếp đó trở về với cõi trời A DI DI ĐÀ đã được ngài A DI DI ĐÀ sắc phong quả vị Phật và quả vị Không, đồng thời được ngài A DI DI ĐÀ truyền toàn bộ thân pháp và trí tuệ cho Tuệ linh ngài Thích Ca, và tuệ linh ngài Thích ca đã truyền toàn bộ tâm từ bi vô lượng cho ngài A DI DI ĐÀ. Việc hai ngài truyền cho nhau trí tuệ và tâm pháp đã khiến cho các tuệ linh cõi trời đó đồng vang hát niệm danh hiệu hai ngài là “Nam mô A DI DI ĐÀ Phật”. Sự kiện đó đánh dấu việc hai ngài đã đắc được quả vị Không, bởi Tuệ ngài Thích Ca là tuệ linh đầu tiên trong vũ trụ đắc được bộ lọc năng lượng là do ngài A DI DI ĐÀ gieo duyên trên con đường tu hành trong vô lượng kiếp để chứng ngộ mà đắc, và việc ngài Thích Ca đắc được bộ lọc năng lượng thì đó cũng là thành quả của ngài A DI DI ĐÀ. Sau đó Tuệ ngài Thích Ca mới phát nguyện xuống để truyền dạy giáo lý của hai chân lý cho chúng sinh trời người. Nhưng sau kiếp ngài Thích Ca hành đạo và khi ngài nhập diệt thì Ma vương lại xâm lấn vào hàng đệ tử của ngài trong nhiều đời và đã chỉnh sửa mất danh hiệu gốc của hai ngài, và khi chúng sinh trì niệm sẽ không con nhiệm màu bởi ánh sáng vô lượng từ hai chân lý.

Đứng trước nguy cơ hai chân lý bị hoại diệt, hai ngài lại tiếp tục gieo duyên xuống nhân gian để cho chúng sinh trời người biết được sự thật về danh hiệu gốc của hai ngài là “A DI DI ĐÀ Phật”, để cho chúng sinh nương tựa được vào sức mạnh của hai chân lý như mặt trời tỏa ánh sáng hào quang vô lượng.

b) Phương pháp trì tụng câu thần chú

Khi trì tụng phải thấu hiểu ngài A DI DI ĐÀ chính là luật nhân quả, là chân lý vạn vật, là hình tướng Đạo, là người Cha vĩ đại của trời người. Ngài Thích Ca là tâm Đạo, là chân lý giác ngộ, là Tâm từ bi vô lượng, là Phật, là Thầy của trời người. Và phải hiểu niệm “Nam mô A DI DI ĐÀ Phật” là con nguyện hành theo chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ của hai ngài.

Khi trì tụng phải nghĩ về hai ngài và phải hiểu danh hiệu gốc của hai ngài là ngài A DI DI ĐÀ và Đức Phật Thích Ca hoặc nghĩ về danh hiệu mới của hai ngài là “Đức Ngũ Âm Hóa Đồng”.

c) Tác dụng của thần chú

Khi hành giả hành thiền, trong lúc thiền định đi cảnh giới, gặp quỷ, tinh tà, chỉ cần dơ tay phải hướng đến và niệm “Nam mô A DI DI ĐÀ Phật” thì quỷ và tinh tà sẽ bị hóa về địa phủ để các ngài giáo hóa. Nếu quỷ đóng giả các vị Phật hay các vị thần thành, thì khi niệm sẽ khiến cho quỷ hiện nguyên hình và bị ánh sáng nhiệm màu của hai chân lý chuyển về địa phủ để các ngài giáo hóa.

Khi hành giả đang có quỷ, tinh tà nhập trong người, niệm nhiều niệm “Nam mô A DI DI ĐÀ Phật” sẽ được hai ngài truyền năng lượng màu vàng để siêu thoát cho quỷ và tinh tà đang nhập trong người niệm và cân bằng năng lượng âm lượng cho người trì tụng hàng ngày.

Khi hành giả trì tụng và hướng tay phải về điền thổ, nơi có nhiều người chết, nơi có bùa chú, âm binh, tinh tà, quỷ đang ngự thì sẽ được ánh sáng màu vàng từ bi độ cho họ về địa phủ để được giáo hóa giác ngộ.

Khi trì tụng bên cạnh người sắp thoát tục hoặc người sắp thoát tục trì tụng sẽ được ánh sáng hào quang nhiệm màu của hai ngài bảo vệ không bị quỷ đến nhập vào hay bắt mất linh hồn.

Thần chú niệm danh hiệu hai ngài chính là Pháp hóa độ, phổ độ, cứu độ chúng sinh trời người. Tuyệt nhiên không thể niệm để cầu được về đất phật, bởi khi niệm mà cầu như vậy sẽ không được hai ngài tiếp dẫn. Thần chú danh hiệu của hai ngài là để bảo vệ người tu hành có được sức mạnh từ hai ngài mà nương tựa trên con đường vượt qua khổ đau kiếp nạn để đắc đạo viên mãn

 

7. Bài thần chú Nhật Sư Tâm Chú

Đức Phật Thích Ca với tầng năng lượng hào quang màu vàng như mặt trời tỏa sáng rực rỡ đã chiếu độ an trụ khắp các cõi trời trong vũ trụ để gieo duyên và giáo hóa tất cả tuệ linh trời người trong vũ trụ. Đó là việc ngài chuyển hóa chân lý giác ngộ thành Tâm chú nhiệm màu vô lượng để cho chúng sinh và tuệ linh trời người nương tựa và đón nhận năng lượng sức mạnh từ bi của ngài.

a) Căn nguyên hình thành bộ thần chú

Để hai chân lý được lan tỏa khắp nhân gian tại kiếp ngài là Đức Phật Thích Ca thì đó là thành quả mà ngài đã tu hành trong nhiều đời nhiều kiếp của ngài, để tri ân công đức tu hành trong nhiều đời nhiều kiếp và tại kiếp mà ngài truyền giáo lý của hai chân lý, các tuệ linh khắp các cõi trời đều tôn xưng danh hiệu ngài là Đức Nhật Sư – Thích Ca Mâu Ni Phật, đó là người Thầy của trời người đang mang ánh sáng sự thật của hai chân lý đi hóa độ chúng sinh trời người. Vì ngài đã đắc được bộ lọc năng lượng trong trụ linh mà tuệ linh ngài đã tỏa tầng năng lượng màu vàng rực rỡ như mặt trời tỏa ánh sáng, đó là ánh sáng từ bi của sự thật khiến cho màn đêm giả dối u mê chuyển hóa thành giác ngộ sự thật như mặt trời tỏa sáng ban ngày. Tầng năng lượng màu vàng của ngài chính là kim thân của ngài, tầng năng lượng của ngài tỏa sáng và an trụ khắp các cõi trời gọi là kim thân của ngài đã an trụ khắp các cõi trời.

Đứng trước sự hoại diệt của hai chân lý, sự mê lầm của chúng sinh trời người, ngài đã phát nguyện lực tỏa kim thân của ngài an trụ khắp các cõi trời để chúng sinh nương tựa vào tâm pháp của ngài và được ngài gia hộ, dẫn dắt đến bến bờ của sự giác ngộ mà không phân biệt chúng sinh trời người. Tâm pháp của ngài chính là kim thân của ngài, vì vậy ngài chuyển hóa tâm pháp thành thần chú “Nhật Sư – Tâm chú” để dẫn dắt chúng sinh thấu hiểu và hành theo hai chân lý của hai ngài.

NHẬT SƯ - TÂM CHÚ

Nam Mô Nhật Sư – Bồ Đề Tâm Phật

Kim thân – Nhật lai, khắp cõi. Độ

Ma đạo, khổ khổ, tam đọa trùng

Kim thân – Nhật lai, ứng – Hóa độ

Ma đạo - Hồi tâm, Tiếp - Ứng đạo

Nhật lai, nhật lai, nhật lai, Hoàn đạo”.

b) Phương pháp trì tụng bộ thần chú

Khi trì tụng phải thấu hiểu Nhật Sư – Tâm chú là thần chú tâm pháp mà Đức Nhật sư – Thích ca Mâu Ni Phật đã chuyển hóa từ chân lý giác ngộ của ngài tạo thành bộ thần chú nhiệm màu vô lượng; đó là ánh sáng vô lượng của “Tâm từ bi - Bồ đề Tâm” do công đức tu hành trong vô lượng kiếp mà chiếu độ đến khắp các cõi trời. Và phải hiểu ngài là Phật tổ.

Khi trì tụng phải nhất tâm nghĩ về Đức Ngũ Âm Hóa Đồng và có niềm tin về Đức Nhật Sư Thích Ca.

Trước khi trì tụng “Nhật Sư – Tâm chú” thì phải trì tụng “Tịnh Độ Tâm”.

c) Tác dụng của bộ thần chú

Trong tam giới thiên – địa - nhân có “Tam đọa trùng” là đọa ngã quỷ, đọa súc sinh, đọa địa ngục, trong đó:

+ Đọa ngã quỷ: Là bao gồm hết thẩy các tuệ linh xuống nhân gian tu hành mà tâm chấp ngã sân hận, dẫn đến tạo nghiệp gọi là Ngã quỷ; những Ngã quỷ này sau khi thoát tục cõi trần sẽ đọa vào cửa Ngã quỷ của cõi trời Địa Phật để tu sám tâm rồi luân hồi trên nhân gian; trải qua nhiều kiếp tạo nhiều ác nghiệp, sẽ có những ngã quỷ sẽ không hồi tâm mà được dẫn dắt về cõi trời của Quỷ. Cõi trời quỷ luôn gieo rắc các cảnh ma để cho chúng sinh hưởng lạc mà quên đi cội nguồn và sứ mệnh của nhân loại, chúng an trụ khắp cõi trần nhân gian để tạo ra chiến tranh, tiêu diệt sự sống của cõi trần nhân sinh này, bắt tuệ linh và linh hồn về giáo hóa thành quỷ mới; tinh tà cũng tu theo quỷ nên trở thành phục dịch cho chúng;

+ Đọa súc sinh: Là súc sinh (muông thú), và những chữ nhân trong cõi trần nhân sinh có tâm ngã quỷ cũng là súc sinh; là những chữ nhân tạo ác nghiệp sau khi trả nghiệp tại địa ngục phải đọa thành súc sinh do ác nghiệp kiếp trước theo luật nhân quả báo ứng;

+ Đọa địa ngục: Là những chữ nhân trong cõi trần nhân sinh đã tạo ác nghiệp, sau khi thoát tục cõi trần sẽ phải đọa vào địa ngục; những chữ nhân sống tại cõi trần nhân sinh do kiếp trước tạo nhiều ác nghiệp nên cũng phải sống trong cảnh địa ngục của bệnh tật, chiến tranh, sát hại nhau, mê tín dị đoan, lừa hại nhau.

Tất cả tam đọa trùng đều gọi là “Ma đạo”.

Vì “Kim thân – Nhật lai” là ánh sáng màu vàng tỏa hào quang vô lượng của ngài là hai chân lý đã an trụ tất cả các cõi trời để hóa độ, phổ độ, cứu độ chúng sinh. Khi xung quanh người trì tụng bộ thần chú này có ma quỷ, tinh tà, âm binh, cô hồn, vong linh sẽ được ánh sáng năng lượng của ngài siêu độ và hóa giải cho họ sớm luân hồi tu hành cải tạo trụ linh. Khi người trì tụng bộ thần chú này thì sẽ được ngài gia hộ truyền năng lượng màu vàng vào người trì tụng để họ cân bằng được năng lượng âm dương trong cơ thể, khiến cho ma quỷ nếu đã an trụ trong người sẽ được siêu thoát, khiến cho ma quỷ bên ngoài không thể xâm nhập vào người trì tụng. Dù hết thẩy ma đạo khắp các cõi trời khi hồi tâm hướng Phật sẽ được ánh sáng nhiệm màu của Phật hóa giải ma đạo, tiếp dẫn tu hành hoàn Đạo viên mãn. Và đặc biệt khi trì tụng bộ thần chú này sẽ nhận được sức mạnh tâm từ bi của ngài để dễ dàng vượt qua được các kiếp nạn khổ đau trên hành trình tu hành cải tạo trụ linh được bộ lọc viên mãn.

 

8. Bài thần chú Địa Phật Tâm Chú

a)     Căn nguyên hình thành Địa Phật – Tâm chú

Sau khi cõi trời địa phật được Đức Ngũ Âm Hóa Đồng tạo ra, chúng sinh tu hành theo dòng đạo Phật, sau khi thoát tục cõi trần nhân sinh trở về Địa phủ để tu hành sám tâm và luyện nguyên khí để tiếp tục hành trình luân hồi trong nhiều kiếp tu hành. Trải qua thời gian dài từ khi đạo Phật được hình thành, chúng sinh trên nhân gian không thấu hiểu về cõi trời này, chúng sinh hoang mang về và sợ hãi về cõi trời Địa phủ. Cõi trời của Quỷ gieo rắc mê tín dị đoan để chúng sinh u mê làm lễ cầu cúng sai trái, chúng truy bắt các tuệ linh và vong linh khi thoát tục cõi trần để hấp thụ nguyên khí của họ và hóa họ thành quỷ mới, chúng khiến họ không đi được vào quy trình luân hồi tu hành.

Khi chúng sinh trên nhân gian u mê sẽ khiến cho vong linh gia tiên của họ ở cõi trời địa phủ cũng u mê và khó giác ngộ theo. Bởi vong linh gia tiên nhanh giác ngộ là do con cháu trên nhân gian nhanh giác ngộ và hành thiện giúp đỡ chúng sinh. Do đó Đức Ngũ Âm Hóa Đồng đã phát nguyện lực đến vô lượng cõi trời người để tạo ra bộ thần chú “Địa Phật – Tâm chú”. Bộ thần chú này là sự nghiêm minh của luật nhân quả và tâm từ bị vô lượng của Đức Ngũ Âm Hóa Đồng. Đó là bộ thần chú mà Đức Ngũ Âm Hóa Đồng đã trao cho Đức Nguyên Linh Địa Phật cùng chư vị Phật và chư vị Bồ tát ở cõi trời Địa Phủ tu luyện và hành theo.

ĐỊA PHẬT – TÂM CHÚ

“Nam Mô Nguyên Linh Địa Phật (3 lần)

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

1. Nhân sinh – Sinh tướng – Tâm biến – Tam đọa trùng

2. Phù du – Dục – Giới – Chấp – Nghiệp quấn thân

3. Cõi trần – Khổ khổ, Thiên định giới

4. Nguyên – Nghiệp rành rành Nam Tào sổ

5. Hồi tâm – Rời nghiệp, Định tâm – Thân

6. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà – Hoàn tâm

7. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

 

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

8. Trùng – Lai – Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

9. Nghiệp báo – Hiện kiếp – Quấn thân

Tà tinh – Ma đạo – Trùng trùng – Báo – Lai

10. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

11. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

12. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

 

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

13. Trùng – Lai -  Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

14. Nghiệp báo – Gia tiên – Cửu huyền

Ngã quỷ - Địa ngục – Trùng trùng – Báo – Lai

15. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Thoát tục – Trùng. Hóa

16. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

17. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

 

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

18. Nhân – Nghiệp – Lượng – Tử, bất vãng sanh

  tinh – Ma đạo, bất phân ranh

Đọa thổ - Nghiệp chướng – Chúng sinh nguy

19. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

20. Nhân – Tử - Hộ

Luận kiếp địa âm- Án xà ngữ hồn

Ngũ linh – Hoàn đạo

21. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

22. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

 

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

23. Pháp nguyệt – Quy tâm, hướng Phật Đạo

Diêm Phủ Đề - Phật vị - Nhật lai

Tiếp dẫn - Ứng – Định – Tâm an

24. Tâm bất quy – Bất Nhật lai

25. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm”

b)    Phương pháp trì tụng bộ thần chú

Trước khi trì tụng phải thấu hiểu cõi trời địa phật, thấu hiểu rằng việc trì tụng bộ thần chú này là nương tựa vào chư vị phật, chư vị bồ tát, ngài đứng đầu cõi trời này là ngài Nguyên Linh Địa Phật của cõi trời địa phật.

Nghĩ về Đức Ngũ Âm Hóa Đồng và nghĩ về ngài Nguyên Linh Địa Phật rồi mới trì tụng.

Trước khi trì tụng bộ chú Địa Phật – Tâm chú thì trì tụng Tịnh độ tâm và Nhật sư – Tâm chú trước.

Tụng bộ thần chú này ở ngoài sân chùa, ngoài sân ngôi nhà ở, ngoài sân nhà thờ họ khi làm lễ phổ độ gia tiên. Hoặc trì tụng bộ chú này khi thắp hương ban thờ gia tiên.

c)     Tác dụng của bộ thần chú Địa Phật – Tâm chú

Bộ thần chú có 5 khổ. Khổ đầu tiên là sám tâm của người trì tụng.

Khổ thứ hai là nhờ chư vị Phật và Bồ tát cõi trời Địa phủ hóa độ, phổ độ, giáo hóa, giải nghiệp cho vong linh thoát tục cõi trần.

Khổ thứ ba là nhờ chư vị Phật và Bồ tát cõi trời Địa phủ hóa độ, phổ độ, giáo hóa, giải nghiệp cho gia tiên dòng họ.

Khổ thứ tư là nhờ chư vị Phật, chư vị Bồ tát cõi trời Địa Phật hóa độ, phổ độ, giáo hóa, giải nghiệp cho vong linh cô hồn.

Khổ thứ năm là nguyện tuân thủ nhân quả và niềm tin của người trì tụng đối với các ngài.

Địa phật – Tâm chú là để nhờ các vị Phật, các vị Bồ tát cõi trời địa phật hóa độ, phổ độ vong linh và gia tiên để giúp họ được siêu thoát ra khỏi các cảnh giới để được luân hồi đảo kiếp mới. Và là hồi hướng cho gia tiên nhanh chóng định thần mà giác ngộ để được siêu thoát kiếp mới.

Địa phật – Tâm chú là nguyện lực của Đức Ngũ Âm Hóa Đồng mà chư vị Phật, chư vị Bồ tát cõi trời Địa Phật đang tu luyện và hành theo. Do đó bất kỳ chúng sinh nào trì tụng hồi hướng gia tiên dòng họ ở cõi trời Địa Phật thì đều được các ngài tiếp dẫn mà giáo hóa, phổ độ, cứu độ cho vong linh được siêu thoát qua các cảnh giới để sớm luân hồi đảo kiếp.

 

9. Bài thần chú Bát Không Phật Đạo

a) Nguồn gốc hình thành Bát Không Tâm Chú

Bát Không Chân Kinh (Bát Không Phật Đạo) hay còn gọi là Bát Không Tâm chú là kết tinh của chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ thông qua 8 bài giảng về hình tướng, về trí tuệ, về tâm, về hành, về đạo, về tuệ, về phật, về nguyện của tất cả vạn vật trời người trong vũ trụ. Bát Không Chân Kinh là lý luận thật nhất, là sự thật của vạn vật vũ trụ. Thông qua chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ như là mặt trời chiếu sáng sự thật của vạn vật trời người vũ trụ, xua tan đêm tối mịt mù u mê mà quỷ đã gieo rắc cho chúng sinh. Là bảng tham chiếu sự thật cho trời người trong vũ trụ nhìn nhận, thấu hiểu và hành đạo đúng tại cõi trần nhân sinh này để nhanh chóng quá trình cải tạo thành công viên mãn bộ lọc năng lượng cho tuệ linh. Khi mỗi hành giả, mỗi chúng sinh thấu hiểu chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ, dùng hai chân lý đó để thấu hiểu từng bài trong Bát Không Chân Kinh và hành đạo cải tạo chính mình và cải tạo thế giới quan thì trong chính tâm của mỗi hành giả sinh khởi được tầng năng lượng màu vàng. Tầng năng lượng màu vàng là sức mạnh của tâm từ bi vô lượng, là sức mạnh của sự thật để hóa giải hết thẩy ma đạo, tiếp dẫn chúng sinh trên con đường Hoàn Đạo viên mãn. Đó là tâm pháp, là bộ lọc năng lượng trong trụ linh của tuệ linh để tỏa ra tầng năng lượng khí vàng nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển sự sống của vũ trụ.

Khi Thấu hiểu Bát Không Chân Kinh thì tinh tà, ma quỷ không thể an trụ trong ta được. Khi chưa thấu hiểu thì hành giả cần nương tựa vào thần chú của Bát Không Chân Kinh (thần chú Bát Không Phật Đạo), bởi Bát Không Chân Kinh là mặt trời của hai chân lý, do đó hành giả nương tựa vào Bát Không Chân Kinh là nương tựa vào ánh sáng mặt trời của hai chân lý. Nương tựa vào ánh sáng mặt trời để an vui trong sự thật, để rời xa cảnh mê lầm u mê như đêm tối mịt mù của ngã quỷ. Khi đã thấu hiểu Bát Không Chân Kinh thông qua hai chân lý thì đó là cảnh ta đã an trụ và sống trong ánh sáng mặt trời. Đó là sức mạnh của Đức Ngũ Âm Hóa Đồng đã và đang hóa độ, phổ độ, cứu độ hết thẩy chúng sinh trời người, tiếp dẫn chúng sinh trời người đến đích của con đường giác ngộ viên mãn.

Bát Không Phật Đạo

Nam Mô Nhật Sư – Bồ Đề Tâm Phật

Tâm Hành. Hóa:

Tướng Vô Tướng, Trí Vô Trí

Tâm Vô Tâm, Hành Vô Hành

Đạo Vô Đạo, Tuệ Vô Tuệ

Phật Vô Phật, Nguyện Vô Nguyện

Hành Giả Tâm Hành. Hóa

Bát Không Phật Đạo, Nhất Tâm Giác Ngộ”.

b)    Phương pháp trì tụng bộ thần chú

Nghĩ về Đức Ngũ Âm Hóa Đồng: Ngài A Di Di Đà và Nhật Sự Thích Ca Mâu Ni Phật.

Tụng bộ thần chú này bất cứ nơi đâu và trong mọi hoàn cảnh: giải bùa, đi đường bất an, ở nơi điền thổ, chùa chiền, đền thờ mà thấy bất an bởi quỷ và tinh tà hay âm binh, ở nơi có âm binh…

c)     Tác dụng của bộ thần chú Địa Phật – Tâm chú

Bát Không Phật Đạo chính là Bát Không Chân Kinh, là thần chú của tất cả thần chú, là pháp của tất cả pháp, là trí tuệ giác ngộ vô lượng, là tâm từ bi vô lượng, là mặt trời tỏa ánh sáng hào quang màu vàng vô lượng. Do đó không có pháp môn nào trong vô lượng trời người có thể dẫn dắt chúng sinh đến con đường Hoàn Đạo viên mãn như Bát Không Chân Kinh. Vì vậy khi tụng bài chú này thì Quỷ, tinh tà, âm binh, cô hồn, bùa chú sẽ được thần lực của hai ngài hóa độ cho họ siêu thoát.

 

 

 

 

 

PHẦN II: NGHI LỄ CHƯ THẦN, THÁNH NHÂN, PHẬT, GIA TIÊN,

ĐIỀN THỔ, SỰ VIỆC, CON NGƯỜI

 

Quý vị lưu ý:

- Gia tiên cửu huyền thất tổ dòng họ là những vong linh sau khi thoát tục cõi trần được sinh sống tại cõi trời địa phủ. Có những dòng họ có những vong linh hoàn thành việc tu hành dưới nhân gian và được trở về giữ chức vụ trước khi xuống làm người, con cháu được báo là có các cụ được làm quan. Dù là vong linh các cụ làm quan nhưng chưa phải là bậc giác ngộ, vong linh gia tiên cũng chưa phải là bậc giác ngộ. Họ vẫn còn chấp ngã và sân hận nên phải tu luyện nguyên khí ở Địa phủ.

- Chư Thần: Thần linh, Thần tài, Thổ địa, Táo quân, Sơn Thần, Thủy thần. Họ đều là những vị chưa giác ngộ, họ vẫn phải tu hành dưới nhân gian. Việc tu hành của họ chính là được cử đi công tác (tu hành) tại các điền thổ, nơi nghĩa trang, nơi sông ngòi, nơi, núi rừng, nơi có con người sinh sống ở các cơ sở kinh doanh, nhà cửa. Họ là những vị Thần có công lao bảo vệ nhưng nơi đó không bị quấy phá của vong cô hồn và âm binh. Họ bảo vệ cho con người chúng ta sinh sống ở trên những điền thổ không bị ảnh hưởng bởi âm binh, vong cô hồn. Các chư thần sẽ công tác theo nhiệm kỳ và khi con người chúng ta sinh sống trên những mảnh đất mới thì phải mời chư thần xuống ngự và bảo vệ âm cho gia đình.

- Gia tiên và chư thần nhận được gì (hưởng được gì) từ đồ lễ, từ sự nhất tâm và hành động của con cháu và chúng ta? - Chúng ta phải hiểu: các chư thần và gia tiên đều đang tồn tại ở thể năng lượng và linh khí, họ vẫn đang tu hành. Họ không ăn hay hít mùi thơm của thức ăn để no, họ không nhận được ngựa hay tiền vàng mà chúng ta cúng rồi hóa cho họ. Vậy tại sao phải cúng tiền vàng, ngựa (lưu ý chư thần, ở địa phủ không có phương tiên khoa học cũng như công nghệ nên không được hóa những đồ đó, không được hóa nhà)? - Chúng ta cúng tiền vàng cho gia tiên và cho chư thần chỉ cần một chút xíu để cho chúng ta và con cháu nhìn và nhớ đến chư thần cũng như gia tiên, hành động đó giúp cho ta và con cháu luôn nhất tâm tri ân gia tiên và chư thần. Khi ta đốt vàng mã biếu chư thần thì dưới Địa phủ, các ngài chứng tâm con cháu nhất tâm, hành thiện và hồi hướng tri ân gia tiên để phát chẩn và hỗ trợ gia tiên tu luyện. Các chư thần sẽ chứng sự nhất tâm và hành thiện để phát chẩn cho các vị thần đang cai quản điền thổ nhà ta. Gia tiên và chư thần không ăn đồ ăn và không tiêu tiền vàng gì cả, họ nhận năng lượng từ sự nhất tâm và sự hành thiện của con cháu thì họ sẽ no đủ và an lạc. Khi an lạc thì sẽ nhanh giác ngộ và nhanh được đầu thai làm người. Khi con cháu không nhất tâm và có hành động tạo nghiệp thì dù có mâm cao cỗ đầy, tiền vàng đầy nhà khi cúng thì chư thần và gia tiên không được các ngài phát chẩn do con cháu không hành thiện và các ngài quy tội gia tiên cũng như chư thần không biết dạy bảo chúng ta. Lúc đó gia tiên và chư thần sẽ hấp thụ năng lượng nghiệp lực, chấp ngã, sân, hận của chúng ta mà tổn hao nguyên khí, không biết bao giờ mới giác ngộ để luân hồi. Do đó việc hành thiện và nhất tâm tri ân chư thần và gia tiền, dù đồ lễ chay tịnh, dù có ngữa mã tiền vàng hay không, nhưng công đức thì vô lượng, gia tiên và chư thần nhận được sự no đủ của năng lượng hành thiện từ chúng ta.

- Chư Phật, Bồ Tát và cõi Trời Địa Phủ cũng đang tu luyện Đạo Giác ngộ nên đối với các Ngài thì đồ lễ là thành tâm dâng hoa quả, không được dâng cúng đồ mặn hay mâm cao cỗ đầy. Nếu chúng sinh dâng lễ nhiều, mâm cao cỗ đầy, bày vẽ về hình tướng khi lễ thì sẽ không được chứng tâm, sự việc sẽ không hóa giải được. Các Ngài chỉ chứng tâm con cháu nhất tâm hướng thiện, nhất tâm cứu gia tiên, nhất tâm cứu chúng sinh thì lễ mọn tâm thành, dù 1 thẻ nhang lễ cửa chùa đã hóa giải được. Các Ngài chứng tâm chứ không chứng lễ.

- Khi đọc lễ phải tập trung và nghĩ thật sâu về chư Phật, chư Thần, gia tiên, vong linh và nội dung công việc tấu lễ sẽ đạt được sự linh nghiệm cao.

 

 

BÀI 1: BÀI LỄ MÙNG 1 VÀ NGÀY 15 HÀNG THÁNG TRONG NHÀ

Phần 1: Chuẩn bị nghi lễ:

- Đồ lễ: Thành tâm dâng hoa, quả, trầu cau, thuốc lá, rượu, thịt, xôi, tiền vàng địa phủ trên ban thờ thần linh và gia tiên trong nhà. Vì thần linh và gia tiên địa phủ dòng họ vẫn đang tu luyện và vẫn còn chấp ngã, sân hận nên họ vẫn còn chấp vào sự chí tâm và hành động của con cháu và chúng ta. Do đó nếu chúng ta ăn mặn thì nên cúng mặn, nếu chúng ta ăn chay trường thì nên cúng chay. Tránh tình trạng chúng ta ăn mặn hay hành nghề sát sinh mà cúng chay.

- Thắp 2 tuần tuần hương, tức là châm hương lần 1 cháy gần hết rồi châm một lần nữa, mỗi lần châm là 1 hoặc 3 nén nhang.

- Hóa tiền vàng khi hương chưa cháy hết, không được hóa khi hương đã cháy hết, vì khi hương còn thắp thì vong linh gia tiên và chư vị thần linh sẽ nhận được sự phát chẩn, nếu khi cháy hết hương mà hóa sẽ không nhận được sự phát chẩn của các ngài.

Phần 2: Thực hiện nghi lễ:

Lên hương xong, nhất tâm đứng trước ban thờ, chắp tay 3 lạy rồi tụng 3 bài thần chú sau (đọc đủ 3 bài chú sẽ đem lại năng lượng no đủ và giúp cho chư thần cũng như gia tiên nhanh giác ngộ để luân hồi. Đồng thời hóa giải được âm binh, cô hồn trong nhà nếu có):

Tụng 3 lần bài Tịnh độ tâm:

Nam mô A Di Di Đà Phật”

 

Tụng 3 lần bài NHẬT SƯ - TÂM CHÚ:

Nam Mô Nhật Sư – Bồ Đề Tâm Phật

Kim thân – Nhật lai, khắp cõi. Độ

Ma đạo, khổ khổ, tam đọa trùng

Kim thân – Nhật lai, ứng – Hóa độ

Ma đạo - Hồi tâm, Tiếp - Ứng đạo

Nhật lai, nhật lai, nhật lai, Hoàn đạo”.

 

Tụng 3 lần bài Địa Phật Tâm Chú:

Nam Mô Nguyên Linh Địa Phật (3 lần)

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

1. Nhân sinh – Sinh tướng – Tâm biến – Tam đọa trùng

2. Phù du – Dục – Giới – Chấp – Nghiệp quấn thân

3. Cõi trần – Khổ khổ, Thiên định giới

4. Nguyên – Nghiệp rành rành Nam Tào sổ

5. Hồi tâm – Rời nghiệp, Định tâm – Thân

6. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà – Hoàn tâm

7. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

8. Trùng – Lai – Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

9. Nghiệp báo – Hiện kiếp – Quấn thân

Tà tinh – Ma đạo – Trùng trùng – Báo – Lai

10. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

11. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

12. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

13. Trùng – Lai -  Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

14. Nghiệp báo – Gia tiên – Cửu huyền

Ngã quỷ - Địa ngục – Trùng trùng – Báo – Lai

15. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Thoát tục – Trùng. Hóa

16. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

17. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

18. Nhân – Nghiệp – Lượng – Tử, bất vãng sanh

  tinh – Ma đạo, bất phân ranh

Đọa thổ - Nghiệp chướng – Chúng sinh nguy

19. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

20. Nhân – Tử - Hộ

Luận kiếp địa âm- Án xà ngữ hồn

Ngũ linh – Hoàn đạo

21. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

22. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

23. Pháp nguyệt – Quy tâm, hướng Phật Đạo

Diêm Phủ Đề - Phật vị - Nhật lai

Tiếp dẫn - Ứng – Định – Tâm an

24. Tâm bất quy – Bất Nhật lai

25. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm”.

Tiếp tục chắp tay lạy 3 lạy xong rồi đọc bài lễ:

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

-                     Ứng linh Hoàn đạo, hoàn lực hậu thế, nghĩa nguồn chữ đạo.

-                     Con lạy 9 phương trời, 10 phương chư phật, chư phật 10 phương.

-                     Con lạy chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”.

Nhật nguyên: Ngày….tháng …năm 2019 (Kỷ Hợi).

Cõi trần nhân sinh, chữ nhân con cháu, dòng họ, dòng tộc “họ…”. Nối thừa tự: Con trần “họ tên người lễ”, thiên địa hợp nhân (địa chỉ nhà ở, nơi kinh doanh…), nhân sinh tâm, nhân tâm, “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo.

Dâng lễ: Thanh bông hoa quả, trầu cau, thuốc lá, xôi, thịt, rượu, tiền vàng địa phủ, tròn tâm. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, ngưỡng vọng Đức Nguyên Linh Địa Phật. Tiếp dẫn, dẫn giải tới gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”. Đạo. Cho phép con trần được mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” được về ngự hưởng lễ vật chí tâm hành thiện. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin phép Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”. Cho phép: Con trần “họ tên người lễ” mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”, về ngự hưởng, sum họp, bữa cơm nồng ấm nhân gian. Trong sự “âm – dương” đôi ngả vẹn toàn. Đạo.

 “Làn hương trầm – gió thoang thoảng”

Hoàn độ: Chữ nhân con cháu dòng họ, dòng tộc “họ…”, trở về hai chữ “Hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Trong sự: Nước chảy một dòng, thuyền xuôi một bến, thuyền trở về cập bến, bến bờ hạnh phúc nhân gian. Tiếp dẫn âm phù, dương trợ, quý nhân phù trợ, thuận cơ âm dương. Quy môn thuận. Đạo.

Nghĩa nguồn “chữ đạo”.

Hoàn độ: Con trần “họ tên người lễ”, trở về hai chữ “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải trong sự: Khai thông, thuận cơ âm dương, hoàn danh, hoàn lộc, hoàn nhân, sở hữu chữ nhân con trần. Đạo.

Trong sự: “Ngũ đạo tào khang – an khang thịnh vượng”

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất” tiền vàng – địa phủ. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng chư Thần. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” tiền vàng – địa phủ. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng gia tiên cửu huyền. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ” Hoàn tâm – đạo lễ.

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

 

 

BÀI 2: BÀI LỄ NGÀY GIỖ CỦA VONG LINH GIA TIÊN DÒNG HỌ

Phần 1: Chuẩn bị nghi lễ:

- Đồ lễ: Thành tâm dâng hoa, quả, trầu cau, thuốc lá, rượu, thịt, xôi, tiền vàng địa phủ trên ban thờ thần linh và mâm cơm canh biếu gia tiên trong nhà. Vì thần linh và gia tiên địa phủ dòng họ vẫn đang tu luyện và vẫn còn chấp ngã, sân hận nên họ vẫn còn chấp vào sự chí tâm và hành động của con cháu và chúng ta. Do đó nếu chúng ta ăn mặn thì nên cúng mặn, nếu chúng ta ăn chay trường thì nên cúng chay. Tránh tình trạng chúng ta ăn mặn hay hành nghề sát sinh mà cúng chay.

- Thắp 2 tuần tuần hương, tức là châm hương lần 1 cháy gần hết rồi châm một lần nữa, mỗi lần châm là 1 hoặc 3 nén nhang.

- Hóa tiền vàng khi hương chưa cháy hết, không được hóa khi hương đã cháy hết, vì khi hương còn thắp thì vong linh gia tiên và chư vị thần linh sẽ nhận được sự phát chẩn, nếu khi cháy hết hương mà hóa sẽ không nhận được sự phát chẩn của các ngài.

Phần 2: Thực hiện nghi lễ:

Lên hương xong, nhất tâm đứng trước ban thờ, chắp tay 3 lạy rồi tụng 3 bài thần chú sau (đọc đủ 3 bài chú sẽ đem lại năng lượng no đủ và giúp cho chư thần cũng như gia tiên nhanh giác ngộ để luân hồi. Đồng thời hóa giải được âm binh, cô hồn trong nhà nếu có):

Tụng 3 lần bài Tịnh độ tâm:

Nam mô A Di Di Đà Phật”

 

Tụng 3 lần bài NHẬT SƯ - TÂM CHÚ:

Nam Mô Nhật Sư – Bồ Đề Tâm Phật

Kim thân – Nhật lai, khắp cõi. Độ

Ma đạo, khổ khổ, tam đọa trùng

Kim thân – Nhật lai, ứng – Hóa độ

Ma đạo - Hồi tâm, Tiếp - Ứng đạo

Nhật lai, nhật lai, nhật lai, Hoàn đạo”.

 

Tụng 3 lần bài Địa Phật Tâm Chú:

Nam Mô Nguyên Linh Địa Phật (3 lần)

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

1. Nhân sinh – Sinh tướng – Tâm biến – Tam đọa trùng

2. Phù du – Dục – Giới – Chấp – Nghiệp quấn thân

3. Cõi trần – Khổ khổ, Thiên định giới

4. Nguyên – Nghiệp rành rành Nam Tào sổ

5. Hồi tâm – Rời nghiệp, Định tâm – Thân

6. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà – Hoàn tâm

7. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

8. Trùng – Lai – Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

9. Nghiệp báo – Hiện kiếp – Quấn thân

Tà tinh – Ma đạo – Trùng trùng – Báo – Lai

10. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

11. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

12. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

13. Trùng – Lai -  Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

14. Nghiệp báo – Gia tiên – Cửu huyền

Ngã quỷ - Địa ngục – Trùng trùng – Báo – Lai

15. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Thoát tục – Trùng. Hóa

16. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

17. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

18. Nhân – Nghiệp – Lượng – Tử, bất vãng sanh

  tinh – Ma đạo, bất phân ranh

Đọa thổ - Nghiệp chướng – Chúng sinh nguy

19. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

20. Nhân – Tử - Hộ

Luận kiếp địa âm- Án xà ngữ hồn

Ngũ linh – Hoàn đạo

21. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

22. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

23. Pháp nguyệt – Quy tâm, hướng Phật Đạo

Diêm Phủ Đề - Phật vị - Nhật lai

Tiếp dẫn - Ứng – Định – Tâm an

24. Tâm bất quy – Bất Nhật lai

25. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm”.

Tiếp tục chắp tay lạy 3 lạy xong rồi đọc bài lễ:

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

-                     Ứng linh Hoàn đạo, hoàn lực hậu thế, nghĩa nguồn chữ đạo.

-                     Con lạy 9 phương trời, 10 phương chư phật, chư phật 10 phương.

-                     Con lạy chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”.

Nhật nguyên: Ngày….tháng …năm 2019 (Kỷ Hợi).

Cõi trần nhân sinh, chữ nhân con cháu, dòng họ, dòng tộc “họ…”. Nối thừa tự: Con trần “họ tên người lễ”, thiên địa hợp nhân (địa chỉ nhà ở…), nhân sinh tâm, nhân tâm, “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo.

Dâng lễ: Thanh bông hoa quả, trầu cau, thuốc lá, xôi, thịt, rượu, tiền vàng địa phủ, tròn tâm. Dâng lễ ngày giỗ vong linh…. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, ngưỡng vọng Đức Nguyên Linh Địa Phật. Tiếp dẫn, dẫn giải tới gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”. Đạo. Cho phép con trần được mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”, xin phép được mời vong linh (họ tên vong linh được làm giỗ) được về ngự hưởng lễ vật chí tâm hành thiện. Trong sự: Tri ân, báo hiếu của con cháu. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin phép Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”. Cho phép: Con trần “họ tên người lễ” mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”, vong linh (họ tên vong linh được làm giỗ) về ngự hưởng, sum họp, bữa cơm nồng ấm nhân gian. Trong sự “âm – dương” đôi ngả vẹn toàn. Đạo.

 “Làn hương trầm – gió thoang thoảng”

Hoàn độ: Chữ nhân con cháu dòng họ, dòng tộc “họ…”, trở về hai chữ “Hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Trong sự: Nước chảy một dòng, thuyền xuôi một bến, thuyền trở về cập bến, bến bờ hạnh phúc nhân gian. Tiếp dẫn âm phù, dương trợ, quý nhân phù trợ, thuận cơ âm dương. Quy môn thuận. Đạo.

Nghĩa nguồn “chữ đạo”.

Hoàn độ: Con trần “họ tên người lễ”, trở về hai chữ “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải trong sự: Khai thông, thuận cơ âm dương, hoàn danh, hoàn lộc, hoàn nhân, sở hữu chữ nhân con trần. Đạo.

Trong sự: “Ngũ đạo tào khang – an khang thịnh vượng”

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất” tiền vàng – địa phủ. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng chư Thần. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” tiền vàng – địa phủ. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng gia tiên cửu huyền. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ” Hoàn tâm – đạo lễ.

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

 

 

BÀI 3: BÀI LỄ CÚNG CHÚNG SINH CÔ HỒN XUNG QUANH ĐIỀN THỔ

Phần 1: Chuẩn bị nghi lễ:

+ Chúng sinh cô hồn là vong linh của những người thoát tục do tai nạn, do chết đường, chết chợ, chết do chiến tranh, chết do tự tử và linh hồn của muôn thú do bị con người giết hại, do già mà chết sẽ phảng phất xung quanh nơi họ chết.

+ Những mảnh đất, nơi khu vực có nhiều chúng sinh cô hồn thì ở những nơi đó, lượng âm khí rất lớn. Những người sống xung quanh đó sẽ sinh bệnh tật, gia đạo không yên, con cái thì dễ sinh hư hỏng.

+ Bản chất cúng chúng sinh cô hồn là thông qua lễ vật chí tâm hành thiện của người sống sẽ phải độ cho họ siêu thoát về địa phủ thông qua các bài thần chú nhiệm màu của Phật pháp.

+ Khi những người sống khắp nơi đều cúng chúng sinh cô hồn thì âm khí trên nhân gian sẽ siêu thoát, nhân gian sẽ không còn hiện tượng cơ đày, căn hành, vong tinh tà nhập vào con người nữa.

- Nơi bày lễ: Bày lễ tại trong giữa đất đối với những nơi là nghĩa trang, bệnh viện, đài hóa thân, nơi có nhiều người chết, nơi là chiến sự. Và bày lễ ngoài nhà ở, bên ngoài nhà máy, công xưởng, nơi kinh doanh (lưu ý là giải âm đất theo hướng dẫn ở phần 4 trước khi cúng chúng sinh bên ngoài nhà). Phải bày lễ ở ngoai nhà, nơi kinh doanh, nơi sản xuất là vì để tránh tinh tà lợi dụng việc chúng ta làm lễ mà vào nhà ngự trên ban thờ, đồng thời giúp chư thần linh điền thổ không bị các thế lực cô hồn hay tinh tà đánh phá.

- Đồ lễ: Thành tâm dâng hoa quả, cơm canh, cháo, bánh kẹo, bỏng, xôi, thịt, rượu, thuốc lá, tiền vàng, quần áo chúng sinh.

- Thắp 2 tuần tuần hương, tuần đầu thắp 5 nén nhang, tuần sau thắp 1 nén khi tuần hương đầu cháy gần hết.

- Hóa tiền vàng khi tuần hương đầu tiên cháy gần hết.

- Trước khi cúng chúng sinh thì cúng lễ trong nhà theo bài lễ ngày 1 và 15 hàng tháng nếu cúng chúng sinh vào bất kỳ ngày nào trong năm. Nếu cúng chúng sinh nhân ngày xá tội vong linh (ngày 13, 14, 15 tháng 7 âm lịch) thì cúng lễ xá tội vong linh trong nhà rồi mới cúng chúng sinh ngoài nhà.

Phần 2: Thực hiện nghi lễ:

Lên hương xong, nhất tâm đứng trước mâm lễ, chắp tay 3 lạy rồi tụng 3 bài thần chú sau (đọc đủ 3 bài chú sẽ được các chư thần linh, chư vị Phật, Bồ tát tiếp dẫn chúng sinh cô hồn về ngự hưởng chí tâm hướng thiện của chúng ta và giúp họ siêu thoát về địa phủ):

Tụng 3 lần bài Tịnh độ tâm:

Nam mô A Di Di Đà Phật”

 

Tụng 3 lần bài NHẬT SƯ - TÂM CHÚ:

Nam Mô Nhật Sư – Bồ Đề Tâm Phật

Kim thân – Nhật lai, khắp cõi. Độ

Ma đạo, khổ khổ, tam đọa trùng

Kim thân – Nhật lai, ứng – Hóa độ

Ma đạo - Hồi tâm, Tiếp - Ứng đạo

Nhật lai, nhật lai, nhật lai, Hoàn đạo”.

 

Tụng 3 lần bài Địa Phật Tâm Chú:

Nam Mô Nguyên Linh Địa Phật (3 lần)

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

1. Nhân sinh – Sinh tướng – Tâm biến – Tam đọa trùng

2. Phù du – Dục – Giới – Chấp – Nghiệp quấn thân

3. Cõi trần – Khổ khổ, Thiên định giới

4. Nguyên – Nghiệp rành rành Nam Tào sổ

5. Hồi tâm – Rời nghiệp, Định tâm – Thân

6. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà – Hoàn tâm

7. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

8. Trùng – Lai – Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

9. Nghiệp báo – Hiện kiếp – Quấn thân

Tà tinh – Ma đạo – Trùng trùng – Báo – Lai

10. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

11. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

12. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

13. Trùng – Lai -  Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

14. Nghiệp báo – Gia tiên – Cửu huyền

Ngã quỷ - Địa ngục – Trùng trùng – Báo – Lai

15. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Thoát tục – Trùng. Hóa

16. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

17. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

18. Nhân – Nghiệp – Lượng – Tử, bất vãng sanh

  tinh – Ma đạo, bất phân ranh

Đọa thổ - Nghiệp chướng – Chúng sinh nguy

19. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

20. Nhân – Tử - Hộ

Luận kiếp địa âm- Án xà ngữ hồn

Ngũ linh – Hoàn đạo

21. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

22. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

23. Pháp nguyệt – Quy tâm, hướng Phật Đạo

Diêm Phủ Đề - Phật vị - Nhật lai

Tiếp dẫn - Ứng – Định – Tâm an

24. Tâm bất quy – Bất Nhật lai

25. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm”.

Tiếp tục chắp tay lạy 3 lạy xong rồi đọc bài lễ:

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

-                     Ứng linh Hoàn đạo, hoàn lực hậu thế, nghĩa nguồn chữ đạo.

-                     Con lạy 9 phương trời, 10 phương chư phật, chư phật 10 phương.

-                     Con lạy tứ trụ nguyên thần nguyên khí bốn hướng đông tây nam bắc hợp nhất.

-                     Con lạy sơn thần – thổ địa – thủy thần hà bá bốn hướng đông tây nam bắc.

-                     Con lạy chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”.

Nhật nguyên: Ngày….tháng …năm 2019 (Kỷ Hợi).

Cõi trần nhân sinh, chữ nhân con cháu, dòng họ, dòng tộc “họ…”. Nối thừa tự: Con trần “họ tên người lễ”, thiên địa hợp nhân (địa chỉ nhà ở…), nhân sinh tâm, nhân tâm, “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo.

Dâng lễ: Thanh bông hoa quả, trầu cau, thuốc lá, bánh kẹo, xôi, thịt, rượu, tiền vàng địa phủ, tròn tâm. Dâng lễ cúng chúng sinh cô hồn “Điền thổ tại đất”. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, ngưỡng vọng Chân linh Phật tổ Như Lai. Ngưỡng vọng Đức Nguyên Linh Địa Phật. Ngưỡng vọng tứ trụ nguyên thần nguyên khí bốn hướng đông tây nam bắc hợp nhất. Ngưỡng vọng sơn thần – thổ địa – thủy thần bốn hướng đông tây nam bắc. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải vong linh cô hồn Thiên ấn, vong linh cô hồn nhân mệnh, linh hồn muông thú; tất cả chữ nhân thoát tục cõi trần do chết đường, chết chợ, chết do tai nạn, chết do tự tử, chết do binh đao khói đạn, chết do chưa đến cung số bản mệnh. Quy tụ tại điền thổ tại đất, quy môn thuận. Thọ hưởng lễ vật chí tâm hành thiện của cõi trần nhân sinh, chữ nhân con trần “họ tên người lễ…”. Trong sự tri ân đạo lễ, đạo đời, đạo đường, đạo đế vương. Đạo.

“Làn hương trầm – gió thoang thoảng”

Con Trần: “Họ tên người lễ” ngưỡng vọng Chân linh Phật tổ Như lai, ngưỡng vọng Đức Nguyên Linh Địa Phật. Hóa độ: Tiếp dẫn, dẫn giải vong linh chúng sinh cô hồn về địa phủ đúng đạo. Đạo.

Nghĩa nguồn “chữ đạo”.

Trong sự: “Ngũ đạo tào khang – an khang thịnh vượng”

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu vong linh chúng sinh cô hồn tiền vàng – địa phủ. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng vong linh chúng sinh cô hồn trở về địa phủ đúng đạo. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ” Hoàn tâm – đạo lễ.

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

Tiếp theo: Khi 5 nén hương cháy gần hết thì hóa tiền vàng. Khi hóa xong và châm them 1 nén nhang nữa.

Tiếp theo: Tay trái bắt ấn (đầu ngón cái và đầu ngón trỏ chạm vao nhau) tay phải dơ cao ngang ngực, hướng lòng bàn tay về phía trước và lần lượt tụng 3 bài thần chú (Tịnh độ Tâm, Nhật sư Tâm chú và Bát không Phật đạo). Mỗi bài tụng càng nhiều càng tốt, vì tụng càng nhiều sẽ giúp vong linh cô hồn siêu thoát hết. Tụng 3 bài chú đó hướng về xung quanh nơi ta làm lễ.

Tiếp theo: Khi tuần nhang thứ 2 cháy gần hết thì ta lại tụng 3 bài chú hướng xung quanh nơi làm lễ để nếu còn vong linh chúng sinh cô hồn nào về sau sẽ vẫn được siêu thoát. Khi tụng xong thì tắt bỏ nén nhang đang cháy gần hết, hoặc tụng đến khi nén nhang cháy hết.

Cuối cùng: Đi vào nhà tụng 3 bài thần chú (Tịnh độ Tâm, Nhật sư Tâm chú và Bát không Phật đạo) hướng xung quanh ngôi nhà và ban thờ để hóa giải âm khí có thể do vong linh chúng sinh cô hồn gây ra nhiễm âm khí ở ngôi nhà.

 

 

BÀI 4: BÀI LỄ XÁ TỘI VONG LINH THÁNG 7 ÂM LỊCH

Phần 1: Chuẩn bị nghi lễ:

- Đồ lễ: Thành tâm dâng hoa, quả, trầu cau, thuốc lá, rượu, thịt, xôi, tiền vàng địa phủ trên ban thờ thần linh và mâm cơm canh biếu gia tiên trong nhà. Vì thần linh và gia tiên địa phủ dòng họ vẫn đang tu luyện và vẫn còn chấp ngã, sân hận nên họ vẫn còn chấp vào sự chí tâm và hành động của con cháu và chúng ta. Do đó nếu chúng ta ăn mặn thì nên cúng mặn, nếu chúng ta ăn chay trường thì nên cúng chay. Tránh tình trạng chúng ta ăn mặn hay hành nghề sát sinh mà cúng chay.

- Thắp 2 tuần tuần hương, tức là châm hương lần 1 cháy gần hết rồi châm một lần nữa, mỗi lần châm là 1 hoặc 3 nén nhang.

- Hóa tiền vàng khi hương chưa cháy hết, không được hóa khi hương đã cháy hết, vì khi hương còn thắp thì vong linh gia tiên và chư vị thần linh sẽ nhận được sự phát chẩn, nếu khi cháy hết hương mà hóa sẽ không nhận được sự phát chẩn của các ngài.

- Trong 3 ngày tháng 7 âm lịch: 13, 14, và 15 là Địa phủ sẽ mở cửa các cửa ngục và cửa Âm – Dương để cho vong linh trong cửa ngục, vong linh không phải trong cửa ngục được về với con cháu trên dương gian để tri ân với con cháu. Do đó con cháu chỉ làm lễ xá tội trong 3 ngày này là tốt nhất nếu gia tiên dòng họ có vong linh nào bị đọa trong cửa ngục hoặc không bị đọa thì cũng là sự tri ân viên mãn nhất.

- Có thể kết hợp cúng chúng sinh (vong cô hồn đói khái không được siêu thoát bên ngoài ngôi nhà, nơi ta đang cư trú) sau khi tấu lễ xá tội vong linh trong nhà.

Phần 2: Thực hiện nghi lễ:

Lên hương xong, nhất tâm đứng trước ban thờ, chắp tay 3 lạy rồi tụng 3 bài thần chú sau (đọc đủ 3 bài chú sẽ đem lại năng lượng no đủ và giúp cho chư thần cũng như gia tiên nhanh giác ngộ để luân hồi. Đồng thời hóa giải được âm binh, cô hồn trong nhà nếu có):

Tụng 3 lần bài Tịnh độ tâm:

Nam mô A Di Di Đà Phật”

 

Tụng 3 lần bài NHẬT SƯ - TÂM CHÚ:

Nam Mô Nhật Sư – Bồ Đề Tâm Phật

Kim thân – Nhật lai, khắp cõi. Độ

Ma đạo, khổ khổ, tam đọa trùng

Kim thân – Nhật lai, ứng – Hóa độ

Ma đạo - Hồi tâm, Tiếp - Ứng đạo

Nhật lai, nhật lai, nhật lai, Hoàn đạo”.

 

Tụng 3 lần bài Địa Phật Tâm Chú:

Nam Mô Nguyên Linh Địa Phật (3 lần)

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

1. Nhân sinh – Sinh tướng – Tâm biến – Tam đọa trùng

2. Phù du – Dục – Giới – Chấp – Nghiệp quấn thân

3. Cõi trần – Khổ khổ, Thiên định giới

4. Nguyên – Nghiệp rành rành Nam Tào sổ

5. Hồi tâm – Rời nghiệp, Định tâm – Thân

6. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà – Hoàn tâm

7. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

8. Trùng – Lai – Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

9. Nghiệp báo – Hiện kiếp – Quấn thân

Tà tinh – Ma đạo – Trùng trùng – Báo – Lai

10. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

11. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

12. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

13. Trùng – Lai -  Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

14. Nghiệp báo – Gia tiên – Cửu huyền

Ngã quỷ - Địa ngục – Trùng trùng – Báo – Lai

15. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Thoát tục – Trùng. Hóa

16. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

17. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

18. Nhân – Nghiệp – Lượng – Tử, bất vãng sanh

  tinh – Ma đạo, bất phân ranh

Đọa thổ - Nghiệp chướng – Chúng sinh nguy

19. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

20. Nhân – Tử - Hộ

Luận kiếp địa âm- Án xà ngữ hồn

Ngũ linh – Hoàn đạo

21. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

22. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

23. Pháp nguyệt – Quy tâm, hướng Phật Đạo

Diêm Phủ Đề - Phật vị - Nhật lai

Tiếp dẫn - Ứng – Định – Tâm an

24. Tâm bất quy – Bất Nhật lai

25. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm”.

Tiếp tục chắp tay lạy 3 lạy xong rồi đọc bài lễ:

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

-                     Ứng linh Hoàn đạo, hoàn lực hậu thế, nghĩa nguồn chữ đạo.

-                     Con lạy 9 phương trời, 10 phương chư phật, chư phật 10 phương.

-                     Con lạy chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”.

Nhật nguyên: Ngày….tháng …năm 2019 (Kỷ Hợi).

Cõi trần nhân sinh, chữ nhân con cháu, dòng họ, dòng tộc “họ…”. Nối thừa tự: Con trần “họ tên người lễ”, thiên địa hợp nhân (địa chỉ nhà ở…), nhân sinh tâm, nhân tâm, “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo.

Dâng lễ: Thanh bông hoa quả, trầu cau, thuốc lá, xôi, thịt, rượu, tiền vàng địa phủ, tròn tâm. Dâng lễ xá tội vong linh. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, ngưỡng vọng Đức Nguyên Linh Địa Phật. Tiếp dẫn, dẫn giải tới gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”. Đạo. Cho phép con trần được mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” sống trong cảnh giới địa âm, cảnh giới địa phật, cảnh giới địa ngục được về ngự hưởng lễ vật chí tâm hành thiện. Trong sự: Tri ân, báo hiếu của con cháu. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin phép Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”. Cho phép: Con trần “họ tên người lễ” mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”, sống trong cảnh giới địa phật, cảnh giới địa âm, cảnh giới địa ngục được về ngự hưởng, sum họp, bữa cơm nồng ấm nhân gian. Trong sự “âm – dương” đôi ngả vẹn toàn. Đạo.

 “Làn hương trầm – gió thoang thoảng”

Hoàn độ: Chữ nhân con cháu dòng họ, dòng tộc “họ…”, trở về hai chữ “Hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Trong sự: Nước chảy một dòng, thuyền xuôi một bến, thuyền trở về cập bến, bến bờ hạnh phúc nhân gian. Tiếp dẫn âm phù, dương trợ, quý nhân phù trợ, thuận cơ âm dương. Quy môn thuận. Đạo.

Nghĩa nguồn “chữ đạo”.

Hoàn độ: Con trần “họ tên người lễ”, trở về hai chữ “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải trong sự: Khai thông, thuận cơ âm dương, hoàn danh, hoàn lộc, hoàn nhân, sở hữu chữ nhân con trần. Đạo.

Trong sự: “Ngũ đạo tào khang – an khang thịnh vượng”

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất” tiền vàng – địa phủ. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng chư Thần. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” tiền vàng – địa phủ. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng gia tiên cửu huyền. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ” Hoàn tâm – đạo lễ.

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

 

 

BÀI 5: BÀI LỄ TẠ ĐIỀN THỔ CUỐI NĂM (NHÀ Ở, NHÀ MÁY,

NƠI SẢN XUẤT, NƠI KINH DOANH)

Phần 1: Chuẩn bị nghi lễ:

- Lễ tạ điền thổ là lễ tạ chư thần: Bao gồm thần linh, thần tài, thổ địa, táo quân và tứ trụ nguyên thần bốn hướng đông tây nam bắc. Lễ tạ là dâng lễ bằng chí tâm hành thiện cảm tạ, tri ân với chư thần đã hỗ trợ, giúp đỡ điền thổ ta sinh sống được an ninh, giúp đỡ gia đạo thuận hòa, hỗ trợ xuất hành bình an, công việc được hanh thông.

- Đồ lễ: Thành tâm dâng hoa, quả, trầu cau, thuốc lá, rượu, thịt, xôi, tiền vàng địa phủ, 5 ông ngựa giấy 5 màu (xanh, đỏ, trắng, vàng, đen) trong sân nhà (nếu không có sân thì dâng lễ tại ban thờ gia tiên và thần linh). Vì thần linh và gia tiên địa phủ dòng họ vẫn đang tu luyện và vẫn còn chấp ngã, sân hận nên họ vẫn còn chấp vào sự chí tâm và hành động của con cháu và chúng ta. Do đó nếu chúng ta ăn mặn thì nên cúng mặn, nếu chúng ta ăn chay trường thì nên cúng chay. Tránh tình trạng chúng ta ăn mặn hay hành nghề sát sinh mà cúng chay.

- Thắp 2 tuần tuần hương, tức là châm hương lần 1 cháy gần hết rồi châm một lần nữa, mỗi lần châm là 1 hoặc 3 nén nhang.

- Hóa tiền vàng khi hương chưa cháy hết, không được hóa khi hương đã cháy hết, vì khi hương còn thắp thì vong linh gia tiên và chư vị thần linh sẽ nhận được sự phát chẩn, nếu khi cháy hết hương mà hóa sẽ không nhận được sự phát chẩn của các ngài.

Lưu ý: Nếu có sân nhà thì bày lễ và lễ ngoài sân nhà rồi vào trong ban thờ gia tiên thần linh lễ bài lễ ngày 1, 15 hàng tháng. Nếu không có sân nhà thì bày lễ ở ban thờ gia tiên thần linh, đọc bài lễ tạ thổ là được. Nếu làm lễ tạ thổ ngày 23 tháng 12 âm lịch tại nhà thì tấu lễ tạ thổ ngoài sân xong vào nhà tấu lễ ngày 23. Nếu không có sân thì sắm lễ ngày 23 đặt lên ban thờ gia tiên thần linh và tấu lễ sau bài lễ tạ thổ.

Phần 2: Thực hiện nghi lễ:

Lên hương xong, nhất tâm đứng trước mâm lễ, chắp tay 3 lạy rồi tụng 3 bài thần chú sau (đọc đủ 3 bài chú sẽ đem lại năng lượng no đủ và giúp cho chư thần cũng như gia tiên nhanh giác ngộ để luân hồi. Đồng thời hóa giải được âm binh, cô hồn trong nhà nếu có):

Tụng 3 lần bài Tịnh độ tâm:

Nam mô A Di Di Đà Phật”

 

Tụng 3 lần bài NHẬT SƯ - TÂM CHÚ:

Nam Mô Nhật Sư – Bồ Đề Tâm Phật

Kim thân – Nhật lai, khắp cõi. Độ

Ma đạo, khổ khổ, tam đọa trùng

Kim thân – Nhật lai, ứng – Hóa độ

Ma đạo - Hồi tâm, Tiếp - Ứng đạo

Nhật lai, nhật lai, nhật lai, Hoàn đạo”.

 

Tụng 3 lần bài Địa Phật Tâm Chú:

Nam Mô Nguyên Linh Địa Phật (3 lần)

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

1. Nhân sinh – Sinh tướng – Tâm biến – Tam đọa trùng

2. Phù du – Dục – Giới – Chấp – Nghiệp quấn thân

3. Cõi trần – Khổ khổ, Thiên định giới

4. Nguyên – Nghiệp rành rành Nam Tào sổ

5. Hồi tâm – Rời nghiệp, Định tâm – Thân

6. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà – Hoàn tâm

7. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

8. Trùng – Lai – Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

9. Nghiệp báo – Hiện kiếp – Quấn thân

Tà tinh – Ma đạo – Trùng trùng – Báo – Lai

10. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

11. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

12. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

13. Trùng – Lai -  Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

14. Nghiệp báo – Gia tiên – Cửu huyền

Ngã quỷ - Địa ngục – Trùng trùng – Báo – Lai

15. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Thoát tục – Trùng. Hóa

16. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

17. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

18. Nhân – Nghiệp – Lượng – Tử, bất vãng sanh

  tinh – Ma đạo, bất phân ranh

Đọa thổ - Nghiệp chướng – Chúng sinh nguy

19. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

20. Nhân – Tử - Hộ

Luận kiếp địa âm- Án xà ngữ hồn

Ngũ linh – Hoàn đạo

21. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

22. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

23. Pháp nguyệt – Quy tâm, hướng Phật Đạo

Diêm Phủ Đề - Phật vị - Nhật lai

Tiếp dẫn - Ứng – Định – Tâm an

24. Tâm bất quy – Bất Nhật lai

25. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm”.

Tiếp tục chắp tay lạy 3 lạy xong rồi đọc bài lễ:

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

-                     Ứng linh Hoàn đạo, hoàn lực hậu thế, nghĩa nguồn chữ đạo.

-                     Con lạy 9 phương trời, 10 phương chư phật, chư phật 10 phương.

-                     Con lạy tứ trụ nguyên thần nguyên khí bốn hướng đông tây nam bắc hợp nhất.

-                     Con lạy chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”.

Nhật nguyên: Ngày….tháng …năm 2019 (Kỷ Hợi).

Cõi trần nhân sinh, chữ nhân con cháu, dòng họ, dòng tộc “họ…”. Nối thừa tự: Con trần “họ tên người lễ”, thiên địa hợp nhân (địa chỉ nhà ở, nơi kinh doanh…), nhân sinh tâm, nhân tâm, “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo.

Dâng lễ: Thanh bông hoa quả, trầu cau, thuốc lá, xôi, thịt, rượu, mã, tiền vàng địa phủ, tròn tâm. Dâng lễ tạ điển thổ tại đất. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, ngưỡng vọng chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất” cùng chư thần trong Ban giám sát hộ thần. Ngưỡng vọng Tứ trụ nguyên thần nguyên khí bốn hướng đông tây nam bắc hợp nhất. Về ngự hưởng lễ vật chí tâm hành thiện. Trong sự tri ân gia hộ của chư thần. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin phép Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”. Cho phép: Con trần “họ tên người lễ” mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”, về ngự hưởng, sum họp, bữa cơm nồng ấm nhân gian. Trong sự “âm – dương” đôi ngả vẹn toàn. Đạo.

 “Làn hương trầm – gió thoang thoảng”

Hoàn độ: Chữ nhân con cháu dòng họ, dòng tộc “họ…”, trở về hai chữ “Hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Trong sự: Nước chảy một dòng, thuyền xuôi một bến, thuyền trở về cập bến, bến bờ hạnh phúc nhân gian. Tiếp dẫn âm phù, dương trợ, quý nhân phù trợ, thuận cơ âm dương. Quy môn thuận. Đạo.

Nghĩa nguồn “chữ đạo”.

Hoàn độ: Con trần “họ tên người lễ”, trở về hai chữ “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải trong sự: Khai thông, thuận cơ âm dương, hoàn danh, hoàn lộc, hoàn nhân, sở hữu chữ nhân con trần. Đạo.

Trong sự: “Ngũ đạo tào khang – an khang thịnh vượng”

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”, tứ trụ nguyên thần bốn hướng đông tây nam bắc tiền vàng – mã - địa phủ. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng chư Thần. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” tiền vàng – địa phủ. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng gia tiên cửu huyền. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ” Hoàn tâm – đạo lễ.

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

 

 

BÀI 6: BÀI LỄ NGÀY 23 THÁNG 12 ÂM LỊCH (TIỄN TÁO QUÂN VỀ TRỜI) VÀ BAO SÁI CHÂN NHANG (TỈA VÀ HÓA CHÂN NHANG)

Phần 1: Chuẩn bị nghi lễ:

- Đồ lễ: Thành tâm dâng hoa, quả, trầu cau, thuốc lá, rượu, thịt, xôi, tiền vàng địa phủ. Vì thần linh và gia tiên địa phủ dòng họ vẫn đang tu luyện và vẫn còn chấp ngã, sân hận nên họ vẫn còn chấp vào sự chí tâm và hành động của con cháu và chúng ta. Do đó nếu chúng ta ăn mặn thì nên cúng mặn, nếu chúng ta ăn chay trường thì nên cúng chay. Tránh tình trạng chúng ta ăn mặn hay hành nghề sát sinh mà cúng chay. Mua 3 con cá chép nhỏ đặt vào bát nước to, cúng xong rồi phong sinh ra sông, hồ.

- Thắp 2 tuần tuần hương, tức là châm hương lần 1 cháy gần hết rồi châm một lần nữa, mỗi lần châm là 1 hoặc 3 nén nhang.

- Hóa tiền vàng khi hương chưa cháy hết, không được hóa khi hương đã cháy hết, vì khi hương còn thắp thì vong linh gia tiên và chư vị thần linh sẽ nhận được sự phát chẩn, nếu khi cháy hết hương mà hóa sẽ không nhận được sự phát chẩn của các ngài.

- Hóa vàng mã xong, hương cháy gần hết thì đọc bài lễ hóa chân nhang và an vị lô nhang.

Phần 2: Thực hiện nghi lễ:

Lên hương xong, nhất tâm đứng trước ban thờ, chắp tay 3 lạy rồi tụng 3 bài thần chú sau (đọc đủ 3 bài chú sẽ đem lại năng lượng no đủ và giúp cho chư thần cũng như gia tiên nhanh giác ngộ để luân hồi. Đồng thời hóa giải được âm binh, cô hồn trong nhà nếu có):

Tụng 3 lần bài Tịnh độ tâm:

Nam mô A Di Di Đà Phật”

 

Tụng 3 lần bài NHẬT SƯ - TÂM CHÚ:

Nam Mô Nhật Sư – Bồ Đề Tâm Phật

Kim thân – Nhật lai, khắp cõi. Độ

Ma đạo, khổ khổ, tam đọa trùng

Kim thân – Nhật lai, ứng – Hóa độ

Ma đạo - Hồi tâm, Tiếp - Ứng đạo

Nhật lai, nhật lai, nhật lai, Hoàn đạo”.

 

Tụng 3 lần bài Địa Phật Tâm Chú:

Nam Mô Nguyên Linh Địa Phật (3 lần)

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

1. Nhân sinh – Sinh tướng – Tâm biến – Tam đọa trùng

2. Phù du – Dục – Giới – Chấp – Nghiệp quấn thân

3. Cõi trần – Khổ khổ, Thiên định giới

4. Nguyên – Nghiệp rành rành Nam Tào sổ

5. Hồi tâm – Rời nghiệp, Định tâm – Thân

6. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà – Hoàn tâm

7. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

8. Trùng – Lai – Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

9. Nghiệp báo – Hiện kiếp – Quấn thân

Tà tinh – Ma đạo – Trùng trùng – Báo – Lai

10. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

11. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

12. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

13. Trùng – Lai -  Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

14. Nghiệp báo – Gia tiên – Cửu huyền

Ngã quỷ - Địa ngục – Trùng trùng – Báo – Lai

15. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Thoát tục – Trùng. Hóa

16. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

17. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

18. Nhân – Nghiệp – Lượng – Tử, bất vãng sanh

  tinh – Ma đạo, bất phân ranh

Đọa thổ - Nghiệp chướng – Chúng sinh nguy

19. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

20. Nhân – Tử - Hộ

Luận kiếp địa âm- Án xà ngữ hồn

Ngũ linh – Hoàn đạo

21. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

22. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

23. Pháp nguyệt – Quy tâm, hướng Phật Đạo

Diêm Phủ Đề - Phật vị - Nhật lai

Tiếp dẫn - Ứng – Định – Tâm an

24. Tâm bất quy – Bất Nhật lai

25. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm”.

Tiếp tục chắp tay lạy 3 lạy xong rồi đọc bài lễ:

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

-                     Ứng linh Hoàn đạo, hoàn lực hậu thế, nghĩa nguồn chữ đạo.

-                     Con lạy 9 phương trời, 10 phương chư phật, chư phật 10 phương.

-                     Con lạy chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”.

Nhật nguyên: Ngày….tháng …năm 2019 (Kỷ Hợi).

Cõi trần nhân sinh, chữ nhân con cháu, dòng họ, dòng tộc “họ…”. Nối thừa tự: Con trần “họ tên người lễ”, thiên địa hợp nhân (địa chỉ nhà ở, nơi kinh doanh…), nhân sinh tâm, nhân tâm, “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo.

Dâng lễ: Thanh bông hoa quả, trầu cau, thuốc lá, xôi, thịt, rượu, mã, tiền vàng địa phủ, tròn tâm. Dâng lễ tiễn chân linh quan táo quân về thiên, trong sự tiếp dẫn, dẫn giải năm mới thuận cơ âm dương. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, ngưỡng vọng Đức Nguyên Linh Địa Phật. Tiếp dẫn, dẫn giải tới gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”. Đạo. Cho phép con trần được mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” được về ngự hưởng lễ vật chí tâm hành thiện. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin phép Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”. Cho phép: Con trần “họ tên người lễ” mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”, về ngự hưởng, sum họp, bữa cơm nồng ấm nhân gian. Trong sự “âm – dương” đôi ngả vẹn toàn. Đạo.

 “Làn hương trầm – gió thoang thoảng”

Hoàn độ: Chữ nhân con cháu dòng họ, dòng tộc “họ…”, trở về hai chữ “Hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Trong sự: Nước chảy một dòng, thuyền xuôi một bến, thuyền trở về cập bến, bến bờ hạnh phúc nhân gian. Tiếp dẫn âm phù, dương trợ, quý nhân phù trợ, thuận cơ âm dương. Quy môn thuận. Đạo.

Nghĩa nguồn “chữ đạo”.

Hoàn độ: Con trần “họ tên người lễ”, trở về hai chữ “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải trong sự: Khai thông, thuận cơ âm dương, hoàn danh, hoàn lộc, hoàn nhân, sở hữu chữ nhân con trần. Đạo.

Trong sự: “Ngũ đạo tào khang – an khang thịnh vượng”

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”, tiền vàng – địa phủ. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng chư Thần. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” tiền vàng – địa phủ. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng gia tiên cửu huyền. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ” Hoàn tâm – đạo lễ.

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

Khi hóa vàng xong, lúc nhang chưa cháy hết thì tấu luôn bài lễ xin hóa chân nhang bên dưới (nếu ban thờ không nhiều chân nhang thì không cần làm lễ hóa chân nhang):

 

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

-                     Ứng linh Hoàn đạo, hoàn lực hậu thế, nghĩa nguồn chữ đạo.

-                     Con lạy 9 phương trời, 10 phương chư phật, chư phật 10 phương.

-                     Con lạy chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”.

Nhật nguyên: Ngày….tháng …năm 2019 (Kỷ Hợi).

Cõi trần nhân sinh, chữ nhân con cháu, dòng họ, dòng tộc “họ…”. Nối thừa tự: Con trần “họ tên người lễ”, thiên địa hợp nhân (địa chỉ nhà ở, nơi kinh doanh…), nhân sinh tâm, nhân tâm, “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo.

Dâng lễ: Thanh bông hoa quả, trầu cau, thuốc lá, xôi, thịt, rượu, mã, tiền vàng địa phủ, tròn tâm. Dâng lễ hóa chân nhang. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin phép Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”, xin phép gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” cho phép con trần “họ tên người lễ…” hóa chân nhang trong sự bao sái ban thờ đúng đạo. Đạo.

 “Làn hương trầm – gió thoang thoảng”

Hoàn độ: Chữ nhân con cháu dòng họ, dòng tộc “họ…”, trở về hai chữ “Hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Trong sự: Nước chảy một dòng, thuyền xuôi một bến, thuyền trở về cập bến, bến bờ hạnh phúc nhân gian. Tiếp dẫn âm phù, dương trợ, quý nhân phù trợ, thuận cơ âm dương. Quy môn thuận. Đạo.

Nghĩa nguồn “chữ đạo”.

Hoàn độ: Con trần “họ tên người lễ”, trở về hai chữ “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải trong sự: Khai thông, thuận cơ âm dương, hoàn danh, hoàn lộc, hoàn nhân, sở hữu chữ nhân con trần. Đạo.

Trong sự: “Ngũ đạo tào khang – an khang thịnh vượng”

Con trần: “Họ tên người lễ” Hoàn tâm – đạo lễ.

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

Sau đó nhấc bát nhang, tỉa và hóa chân nhang, lấy rượu gừng lau ban thờ, lau bát nhang và kê đặt bát nhang lên trên ban thờ. Mỗi bát nhang để lại 5 chân nhang cũ.

Khi đặt bát nhang lên ban thờ thì châm mỗi bát nhang 1 nén nhang rồi đọc bài lễ an vị sau:

 

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

-                     Ứng linh Hoàn đạo, hoàn lực hậu thế, nghĩa nguồn chữ đạo.

-                     Con lạy 9 phương trời, 10 phương chư phật, chư phật 10 phương.

-                     Con lạy chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”.

Nhật nguyên: Ngày….tháng …năm 2019 (Kỷ Hợi).

Cõi trần nhân sinh, chữ nhân con cháu, dòng họ, dòng tộc “họ…”. Nối thừa tự: Con trần “họ tên người lễ”, thiên địa hợp nhân (địa chỉ nhà ở, nơi kinh doanh…), nhân sinh tâm, nhân tâm, “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo.

Dâng lễ: Thanh bông hoa quả, nước, nén nhang thơm, tròn tâm. Dâng lễ an vị lô nhang. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin phép Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”, cho phép an vị lô nhang thờ hội đồng quan thần linh điền thổ tại đất trong sự định vị thiên cơ. Xin phép gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” cho phép an vị lô nhang thờ hội đồng gia tiên trong sự định vị thiên cơ. Xin phép bà tổ tô, ông mãnh tổ cho phép an vị lô nhang thờ bà tổ cô, ông mãnh tổ trong sự định vị thiên cơ. Đạo.

 “Làn hương trầm – gió thoang thoảng”

Hoàn độ: Chữ nhân con cháu dòng họ, dòng tộc “họ…”, trở về hai chữ “Hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Trong sự: Nước chảy một dòng, thuyền xuôi một bến, thuyền trở về cập bến, bến bờ hạnh phúc nhân gian. Tiếp dẫn âm phù, dương trợ, quý nhân phù trợ, thuận cơ âm dương. Quy môn thuận. Đạo.

Nghĩa nguồn “chữ đạo”.

Hoàn độ: Con trần “họ tên người lễ”, trở về hai chữ “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải trong sự: Khai thông, thuận cơ âm dương, hoàn danh, hoàn lộc, hoàn nhân, sở hữu chữ nhân con trần. Đạo.

Trong sự: “Ngũ đạo tào khang – an khang thịnh vượng”

Con trần: “Họ tên người lễ” Hoàn tâm – đạo lễ.

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

 

 

BÀI 7: BÀI LỄ TẤT NIÊN NGÀY CUỐI NĂM (30 TẾT) TRONG NHÀ

Phần 1: Chuẩn bị nghi lễ:

- Đồ lễ: Thành tâm dâng hoa, quả, trầu cau, thuốc lá, rượu, thịt, xôi, tiền vàng địa phủ trên ban thờ thần linh và gia tiên trong nhà. Vì thần linh và gia tiên địa phủ dòng họ vẫn đang tu luyện và vẫn còn chấp ngã, sân hận nên họ vẫn còn chấp vào sự chí tâm và hành động của con cháu và chúng ta. Do đó nếu chúng ta ăn mặn thì nên cúng mặn, nếu chúng ta ăn chay trường thì nên cúng chay. Tránh tình trạng chúng ta ăn mặn hay hành nghề sát sinh mà cúng chay.

- Thắp 2 tuần tuần hương, tức là châm hương lần 1 cháy gần hết rồi châm một lần nữa, mỗi lần châm là 1 hoặc 3 nén nhang.

- Hóa tiền vàng khi hương chưa cháy hết, không được hóa khi hương đã cháy hết, vì khi hương còn thắp thì vong linh gia tiên và chư vị thần linh sẽ nhận được sự phát chẩn, nếu khi cháy hết hương mà hóa sẽ không nhận được sự phát chẩn của các ngài.

Phần 2: Thực hiện nghi lễ:

Lên hương xong, nhất tâm đứng trước ban thờ, chắp tay 3 lạy rồi tụng 3 bài thần chú sau (đọc đủ 3 bài chú sẽ đem lại năng lượng no đủ và giúp cho chư thần cũng như gia tiên nhanh giác ngộ để luân hồi. Đồng thời hóa giải được âm binh, cô hồn trong nhà nếu có):

Tụng 3 lần bài Tịnh độ tâm:

Nam mô A Di Di Đà Phật”

 

Tụng 3 lần bài NHẬT SƯ - TÂM CHÚ:

Nam Mô Nhật Sư – Bồ Đề Tâm Phật

Kim thân – Nhật lai, khắp cõi. Độ

Ma đạo, khổ khổ, tam đọa trùng

Kim thân – Nhật lai, ứng – Hóa độ

Ma đạo - Hồi tâm, Tiếp - Ứng đạo

Nhật lai, nhật lai, nhật lai, Hoàn đạo”.

 

Tụng 3 lần bài Địa Phật Tâm Chú:

Nam Mô Nguyên Linh Địa Phật (3 lần)

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

1. Nhân sinh – Sinh tướng – Tâm biến – Tam đọa trùng

2. Phù du – Dục – Giới – Chấp – Nghiệp quấn thân

3. Cõi trần – Khổ khổ, Thiên định giới

4. Nguyên – Nghiệp rành rành Nam Tào sổ

5. Hồi tâm – Rời nghiệp, Định tâm – Thân

6. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà – Hoàn tâm

7. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

8. Trùng – Lai – Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

9. Nghiệp báo – Hiện kiếp – Quấn thân

Tà tinh – Ma đạo – Trùng trùng – Báo – Lai

10. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

11. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

12. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

13. Trùng – Lai -  Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

14. Nghiệp báo – Gia tiên – Cửu huyền

Ngã quỷ - Địa ngục – Trùng trùng – Báo – Lai

15. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Thoát tục – Trùng. Hóa

16. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

17. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

18. Nhân – Nghiệp – Lượng – Tử, bất vãng sanh

  tinh – Ma đạo, bất phân ranh

Đọa thổ - Nghiệp chướng – Chúng sinh nguy

19. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

20. Nhân – Tử - Hộ

Luận kiếp địa âm- Án xà ngữ hồn

Ngũ linh – Hoàn đạo

21. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

22. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

23. Pháp nguyệt – Quy tâm, hướng Phật Đạo

Diêm Phủ Đề - Phật vị - Nhật lai

Tiếp dẫn - Ứng – Định – Tâm an

24. Tâm bất quy – Bất Nhật lai

25. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm”.

Tiếp tục chắp tay lạy 3 lạy xong rồi đọc bài lễ:

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

-                     Ứng linh Hoàn đạo, hoàn lực hậu thế, nghĩa nguồn chữ đạo.

-                     Con lạy 9 phương trời, 10 phương chư phật, chư phật 10 phương.

-                     Con lạy chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”.

Nhật nguyên: Ngày….tháng …năm 2019 (Kỷ Hợi).

Cõi trần nhân sinh, chữ nhân con cháu, dòng họ, dòng tộc “họ…”. Nối thừa tự: Con trần “họ tên người lễ”, thiên địa hợp nhân (địa chỉ nhà ở, nơi kinh doanh…), nhân sinh tâm, nhân tâm, “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo.

Dâng lễ: Thanh bông hoa quả, trầu cau, thuốc lá, xôi, thịt, rượu, tiền vàng địa phủ, tròn tâm. Dâng lễ Tất Niên cuối năm (Kỷ Hợi). Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, ngưỡng vọng Đức Nguyên Linh Địa Phật. Tiếp dẫn, dẫn giải tới gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”. Đạo. Cho phép con trần được mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” được về ngự hưởng lễ vật chí tâm hành thiện nhân ngày Tất niên. Tiếp dẫn ngự hưởng du xuân cùng con cháu. Trong sự “âm – dương” đôi ngả vẹn toàn. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin phép Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”. Cho phép: Con trần “họ tên người lễ” mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”, về ngự hưởng, sum họp, bữa cơm nồng ấm nhân gian, nhân ngày Tất niên. Tiếp dẫn ngự hưởng du xuân cùng con cháu. Trong sự “âm – dương” đôi ngả vẹn toàn. Đạo.

 “Làn hương trầm – gió thoang thoảng”

Hoàn độ: Chữ nhân con cháu dòng họ, dòng tộc “họ…”, trở về hai chữ “Hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải năm mới (Canh tý) trong sự: Nước chảy một dòng, thuyền xuôi một bến, thuyền trở về cập bến, bến bờ hạnh phúc nhân gian. Tiếp dẫn âm phù, dương trợ, quý nhân phù trợ, thuận cơ âm dương. Quy môn thuận. Đạo.

Nghĩa nguồn “chữ đạo”.

Hoàn độ: Con trần “họ tên người lễ”, trở về hai chữ “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải năm mới (Canh tý) trong sự: Khai thông, thuận cơ âm dương, hoàn danh, hoàn lộc, hoàn nhân, sở hữu chữ nhân con trần. Đạo.

Trong sự: “Ngũ đạo tào khang – an khang thịnh vượng”

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất” tiền vàng – địa phủ. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng chư Thần. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” tiền vàng – địa phủ. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng gia tiên cửu huyền. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ” Hoàn tâm – đạo lễ.

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

 

 

BÀI 8: BÀI LỄ ĐÊM GIAO THỪA TẠI NHÀ, NƠI KINH DOANH

Phần 1: Chuẩn bị nghi lễ:

- Lễ đêm giao thừa là nghi lễ tri ân thiên địa (cội nguồn của con người), tri ân với những bậc anh hùng dân tộc, tri ân với nguyên thần nguyên khí bốn hướng đông tây nam bắc, tri ân với tất cả Tuệ linh trời người. Lễ đêm giao thừa cũng là nghi thức chuyển giao linh khí, nguyên khi từ năm cũ sang năm mới. Với hy vọng, sự chúc cho nhân loại, cho thế giới, cho dân tộc, cho dòng họ, cho gia đình, cho mỗi người đón nhận được những linh khí thiên địa tốt, nhân loại không còn chiến tranh, con người sống đoàn kết và yêu thương nhau. Tiếp dẫn trong sự khai thông thuận cơ âm dương, sở hữu chữ nhân.

- Trong thời khắc giao thừa, việc chúng ta hành lễ thiên địa là mời chư thần thiết nhập và an vị lô nhang điền thổ trong năm mới (nhiều trường hợp các ngài có sự thay đổi, do đó chúng ta nên thành kính mời chư thần).

- Trong nhân gian có nói về các vị quan hành khiển theo từng năm. Thực ra đó là do người Trung Quốc biến tướng, dựng lên việc các vị quan hành khiển cai quản nhân gian theo năm. Họ đặt tên các vị đó theo tên các vị Vua của dân tộc họ trong quá khứ. Đây là điều không có thật, bởi vì có cả một cõi trời có các chư thần sẽ xuống khắp muôn nơi để giúp đỡ con người tu hành dưới nhân gian.

- Đồ lễ: Dâng 2 lễ. Một lễ thành tâm dâng hoa, quả, trầu cau, thuốc lá, rượu, thịt, xôi trên ban thờ thần linh và gia tiên trong nhà. Một lễ ngoài sân nhà (cửa nhà đối với những nhà không có sân) là hoa quả, xôi thịt, rượu, trầu cau. Vì thần linh và gia tiên địa phủ dòng họ vẫn đang tu luyện và vẫn còn chấp ngã, sân hận nên họ vẫn còn chấp vào sự chí tâm và hành động của con cháu và chúng ta. Do đó nếu chúng ta ăn mặn thì nên cúng mặn, nếu chúng ta ăn chay trường thì nên cúng chay. Tránh tình trạng chúng ta ăn mặn hay hành nghề sát sinh mà cúng chay.

- Thắp 2 tuần tuần hương, tức là châm hương lần 1 cháy gần hết rồi châm một lần nữa, mỗi lần châm là 1 hoặc 3 nén nhang.

- Sang giờ tý, khoảng sau 12h đêm thực hiện nghi lễ.

Phần 2: Thực hiện nghi lễ:

I) Tấu lễ Thiên – Địa ngoài sân (trước cửa nhà)

Lên hương xong, nhất tâm đứng trước mâm lễ, chắp tay 3 lạy rồi tụng 3 bài thần chú sau (đọc đủ 3 bài chú sẽ đem lại năng lượng no đủ và giúp cho chư thần cũng như gia tiên nhanh giác ngộ để luân hồi. Đồng thời hóa giải được âm binh, cô hồn trong nhà nếu có):

Tụng 3 lần bài Tịnh độ tâm:

Nam mô A Di Di Đà Phật”

 

Tụng 3 lần bài NHẬT SƯ - TÂM CHÚ:

Nam Mô Nhật Sư – Bồ Đề Tâm Phật

Kim thân – Nhật lai, khắp cõi. Độ

Ma đạo, khổ khổ, tam đọa trùng

Kim thân – Nhật lai, ứng – Hóa độ

Ma đạo - Hồi tâm, Tiếp - Ứng đạo

Nhật lai, nhật lai, nhật lai, Hoàn đạo”.

 

Tụng 3 lần bài Địa Phật Tâm Chú:

Nam Mô Nguyên Linh Địa Phật (3 lần)

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

1. Nhân sinh – Sinh tướng – Tâm biến – Tam đọa trùng

2. Phù du – Dục – Giới – Chấp – Nghiệp quấn thân

3. Cõi trần – Khổ khổ, Thiên định giới

4. Nguyên – Nghiệp rành rành Nam Tào sổ

5. Hồi tâm – Rời nghiệp, Định tâm – Thân

6. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà – Hoàn tâm

7. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

8. Trùng – Lai – Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

9. Nghiệp báo – Hiện kiếp – Quấn thân

Tà tinh – Ma đạo – Trùng trùng – Báo – Lai

10. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

11. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

12. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

13. Trùng – Lai -  Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

14. Nghiệp báo – Gia tiên – Cửu huyền

Ngã quỷ - Địa ngục – Trùng trùng – Báo – Lai

15. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Thoát tục – Trùng. Hóa

16. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

17. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

18. Nhân – Nghiệp – Lượng – Tử, bất vãng sanh

  tinh – Ma đạo, bất phân ranh

Đọa thổ - Nghiệp chướng – Chúng sinh nguy

19. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

20. Nhân – Tử - Hộ

Luận kiếp địa âm- Án xà ngữ hồn

Ngũ linh – Hoàn đạo

21. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

22. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

23. Pháp nguyệt – Quy tâm, hướng Phật Đạo

Diêm Phủ Đề - Phật vị - Nhật lai

Tiếp dẫn - Ứng – Định – Tâm an

24. Tâm bất quy – Bất Nhật lai

25. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm”.

Tiếp tục chắp tay lạy 3 lạy xong rồi đọc bài lễ:

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

-                     Ứng linh Hoàn đạo, hoàn lực hậu thế, nghĩa nguồn chữ đạo.

-                     Con lạy 9 phương trời, 10 phương chư phật, chư phật 10 phương.

-                     Con lạy tứ trụ nguyên thần nguyên khí bốn hướng đông tây nam bắc hợp nhất.

-                     Con lạy chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”.

Nhật nguyên: Đêm giao thừa ngày 30 tết, tiếp dẫn ngày mùng 1 tết tháng 1 năm 2020 (Canh Tý).

Cõi trần nhân sinh, chữ nhân con cháu, dòng họ, dòng tộc “họ…”. Nối thừa tự: Con trần “họ tên người lễ”, thiên địa hợp nhân (địa chỉ nhà ở, nơi kinh doanh…), nhân sinh tâm, nhân tâm, “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo.

Dâng lễ: Thanh bông hoa quả, trầu cau, thuốc lá, xôi, thịt, rượu, tròn tâm. Dâng lễ đêm giao thừa chuyển tiếp năm mới (Canh Tý). Đạo.

Trong sự: Trời – Đất linh thiêng, giao hòa 3 cõi Thiên – Địa – Nhân hợp nhất. Trong sự hồn thiêng sống núi Nước Nam hợp nhất. Trong sự quá khứ - hiện tại – vị lai hợp nhất tại sở hữu chữ nhân. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, ngưỡng vọng Đức Ngũ Âm Hóa Đồng (Đức A DI DI Đà, Đức Phật Thích Ca). Ngưỡng vọng Đức Nguyên Linh Địa Phật. Ngưỡng vọng Vua Trời. Ngưỡng vọng Diện Thánh Tam Tòa. Ngưỡng vọng Ban giám sát hộ thần. Ngưỡng vọng Tứ trụ nguyên thần, nguyên khí bốn hướng đông tây nam bắc. Ngưỡng vọng Linh khí sông núi Nước Nam. Đạo.

“Làn hương trầm – gió thoang thoảng”

Hoàn độ: Chúng sinh cõi trần nhân sinh trở về hai chữ “Hoàn Tâm”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải chúng sinh vượt qua khổ đau kiếp nạn trong vòng sinh tử luân hồi. Tiếp dẫn chúng sinh nương tựa trong chân lý nhân quả và chân lý vạn vật. Trong sự nương tựa Đạo Phật, Đạo Phật vĩnh hằng, che chở tỏa bóng mát nhân gian. Tiếp dẫn Hoàn Đạo. Tiếp dẫn, Hoàn độ dân tộc Việt Nam “Quốc thái dân an, an lạc thái bình”. Tiếp dẫn chư thần ban giám sát hộ thần thiết nhập tâm linh điền thổ - lô nhang thờ hội đồng quan thần linh điền thổ tại đất, tiếp dẫn an vị trong sự định vị thiên cơ. Đạo.

Nghĩa nguồn “chữ đạo”.

Hoàn độ: Con trần “họ tên người lễ” cùng con cháu dòng họ, dòng tộc “họ…”, trở về hai chữ “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải năm mới (Canh tý) trong sự: Khai thông, thuận cơ âm dương, hoàn danh, hoàn lộc, hoàn nhân, sở hữu chữ nhân con trần. Tiếp dẫn nương tựa cửa Phật, nương tựa chân lý nhân quả và chân lý giác ngộ. Tiếp dẫn Hoàn Đạo. Đạo.

Trong sự: “Ngũ đạo tào khang – an khang thịnh vượng”

Con trần: “Họ tên người lễ” Hoàn tâm – đạo lễ.

Ứng linh Hoàn đạo, hoàn lực hậu thế, nghĩa nguồn chữ đạo.

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

 

II) Tấu lễ trong ban thờ gia tiên, thần linh:

Lên hương xong, nhất tâm đứng trước ban thờ, chắp tay 3 lạy rồi tụng 3 bài thần chú sau (đọc đủ 3 bài chú sẽ đem lại năng lượng no đủ và giúp cho chư thần cũng như gia tiên nhanh giác ngộ để luân hồi. Đồng thời hóa giải được âm binh, cô hồn trong nhà nếu có):

Tụng 3 lần bài Tịnh độ tâm:

Nam mô A Di Di Đà Phật”

 

Tụng 3 lần bài NHẬT SƯ - TÂM CHÚ:

Nam Mô Nhật Sư – Bồ Đề Tâm Phật

Kim thân – Nhật lai, khắp cõi. Độ

Ma đạo, khổ khổ, tam đọa trùng

Kim thân – Nhật lai, ứng – Hóa độ

Ma đạo - Hồi tâm, Tiếp - Ứng đạo

Nhật lai, nhật lai, nhật lai, Hoàn đạo”.

 

Tụng 3 lần bài Địa Phật Tâm Chú:

Nam Mô Nguyên Linh Địa Phật (3 lần)

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

1. Nhân sinh – Sinh tướng – Tâm biến – Tam đọa trùng

2. Phù du – Dục – Giới – Chấp – Nghiệp quấn thân

3. Cõi trần – Khổ khổ, Thiên định giới

4. Nguyên – Nghiệp rành rành Nam Tào sổ

5. Hồi tâm – Rời nghiệp, Định tâm – Thân

6. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà – Hoàn tâm

7. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

8. Trùng – Lai – Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

9. Nghiệp báo – Hiện kiếp – Quấn thân

Tà tinh – Ma đạo – Trùng trùng – Báo – Lai

10. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

11. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

12. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

13. Trùng – Lai -  Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

14. Nghiệp báo – Gia tiên – Cửu huyền

Ngã quỷ - Địa ngục – Trùng trùng – Báo – Lai

15. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Thoát tục – Trùng. Hóa

16. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

17. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

18. Nhân – Nghiệp – Lượng – Tử, bất vãng sanh

  tinh – Ma đạo, bất phân ranh

Đọa thổ - Nghiệp chướng – Chúng sinh nguy

19. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

20. Nhân – Tử - Hộ

Luận kiếp địa âm- Án xà ngữ hồn

Ngũ linh – Hoàn đạo

21. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

22. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

23. Pháp nguyệt – Quy tâm, hướng Phật Đạo

Diêm Phủ Đề - Phật vị - Nhật lai

Tiếp dẫn - Ứng – Định – Tâm an

24. Tâm bất quy – Bất Nhật lai

25. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm”.

Tiếp tục chắp tay lạy 3 lạy xong rồi đọc bài lễ:

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

-                     Ứng linh Hoàn đạo, hoàn lực hậu thế, nghĩa nguồn chữ đạo.

-                     Con lạy 9 phương trời, 10 phương chư phật, chư phật 10 phương.

-                     Con lạy chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”.

Nhật nguyên: Đêm ngày 30 tết tiếp dẫn ngày mùng 1 tết tháng 1 năm 2020 (Canh tý).

Cõi trần nhân sinh, chữ nhân con cháu, dòng họ, dòng tộc “họ…”. Nối thừa tự: Con trần “họ tên người lễ”, thiên địa hợp nhân (địa chỉ nhà ở, nơi kinh doanh…), nhân sinh tâm, nhân tâm, “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo.

Dâng lễ: Thanh bông hoa quả, trầu cau, thuốc lá, xôi, thịt, rượu, tròn tâm. Dâng lễ đêm giao thừa chuyển tiếp năm mới (Canh Tý). Đạo.

Trong sự: Trời – Đất linh thiêng, giao hòa 3 cõi Thiên – Địa – Nhân hợp nhất. Trong sự hồn thiêng sống núi Nước Nam hợp nhất. Trong sự quá khứ - hiện tại – vị lai hợp nhất tại sở hữu chữ nhân. Đạo. Con trần: “Họ tên người lễ”, ngưỡng vọng ban Giám sát hộ thần, xin mời chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh quan thần tài, thiết nhập và an vị lô nhang thờ hội đồng quan thần linh “điền thổ tại đất”, trong sự định vị thiên cơ. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, ngưỡng vọng Đức Nguyên Linh Địa Phật. Tiếp dẫn, dẫn giải tới gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”. Đạo. Cho phép con trần được mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” được về ngự hưởng lễ vật chí tâm hành thiện, trong sự chung vui du xuân ngày tết cùng con cháu. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin phép Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”. Cho phép: Con trần “họ tên người lễ” mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”, về ngự hưởng, sum họp, lễ vật chí tâm hành thiện nồng ấm nhân gian, chung vui du xuân ngày tết cùng con cháu. Trong sự “âm – dương” đôi ngả vẹn toàn. Đạo.

 “Làn hương trầm – gió thoang thoảng”

Hoàn độ: Chữ nhân con cháu dòng họ, dòng tộc “họ…”, trở về hai chữ “Hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải năm mới trong sự: Nước chảy một dòng, thuyền xuôi một bến, thuyền trở về cập bến, bến bờ hạnh phúc nhân gian. Tiếp dẫn âm phù, dương trợ, quý nhân phù trợ, thuận cơ âm dương. Quy môn thuận. Đạo.

Nghĩa nguồn “chữ đạo”.

Hoàn độ: Con trần “họ tên người lễ”, trở về hai chữ “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải năm mới trong sự: Khai thông, thuận cơ âm dương, hoàn danh, hoàn lộc, hoàn nhân, sở hữu chữ nhân con trần. Đạo.

Trong sự: “Ngũ đạo tào khang – an khang thịnh vượng”

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất” lễ vật. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng chư Thần. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” lễ vật. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng gia tiên cửu huyền. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ” Hoàn tâm – đạo lễ.

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

 

 

BÀI 9: BÀI LỄ NGÀY MÙNG 1 TẾT TRONG NHÀ, NƠI KINH DOANH

Phần 1: Chuẩn bị nghi lễ:

- Đồ lễ: Thành tâm dâng hoa, quả, trầu cau, thuốc lá, rượu, thịt, xôi, tiền vàng địa phủ trên ban thờ thần linh và 1 mâm cơm canh gia tiên trong nhà. Vì thần linh và gia tiên địa phủ dòng họ vẫn đang tu luyện và vẫn còn chấp ngã, sân hận nên họ vẫn còn chấp vào sự chí tâm và hành động của con cháu và chúng ta. Do đó nếu chúng ta ăn mặn thì nên cúng mặn, nếu chúng ta ăn chay trường thì nên cúng chay. Tránh tình trạng chúng ta ăn mặn hay hành nghề sát sinh mà cúng chay.

- Thắp 2 tuần tuần hương, tức là châm hương lần 1 cháy gần hết rồi châm một lần nữa, mỗi lần châm là 1 hoặc 3 nén nhang.

Phần 2: Thực hiện nghi lễ:

Lên hương xong, nhất tâm đứng trước ban thờ, chắp tay 3 lạy rồi tụng 3 bài thần chú sau (đọc đủ 3 bài chú sẽ đem lại năng lượng no đủ và giúp cho chư thần cũng như gia tiên nhanh giác ngộ để luân hồi. Đồng thời hóa giải được âm binh, cô hồn trong nhà nếu có):

Tụng 3 lần bài Tịnh độ tâm:

Nam mô A Di Di Đà Phật”

 

Tụng 3 lần bài NHẬT SƯ - TÂM CHÚ:

Nam Mô Nhật Sư – Bồ Đề Tâm Phật

Kim thân – Nhật lai, khắp cõi. Độ

Ma đạo, khổ khổ, tam đọa trùng

Kim thân – Nhật lai, ứng – Hóa độ

Ma đạo - Hồi tâm, Tiếp - Ứng đạo

Nhật lai, nhật lai, nhật lai, Hoàn đạo”.

 

Tụng 3 lần bài Địa Phật Tâm Chú:

Nam Mô Nguyên Linh Địa Phật (3 lần)

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

1. Nhân sinh – Sinh tướng – Tâm biến – Tam đọa trùng

2. Phù du – Dục – Giới – Chấp – Nghiệp quấn thân

3. Cõi trần – Khổ khổ, Thiên định giới

4. Nguyên – Nghiệp rành rành Nam Tào sổ

5. Hồi tâm – Rời nghiệp, Định tâm – Thân

6. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà – Hoàn tâm

7. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

8. Trùng – Lai – Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

9. Nghiệp báo – Hiện kiếp – Quấn thân

Tà tinh – Ma đạo – Trùng trùng – Báo – Lai

10. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

11. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

12. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

13. Trùng – Lai -  Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

14. Nghiệp báo – Gia tiên – Cửu huyền

Ngã quỷ - Địa ngục – Trùng trùng – Báo – Lai

15. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Thoát tục – Trùng. Hóa

16. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

17. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

18. Nhân – Nghiệp – Lượng – Tử, bất vãng sanh

  tinh – Ma đạo, bất phân ranh

Đọa thổ - Nghiệp chướng – Chúng sinh nguy

19. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

20. Nhân – Tử - Hộ

Luận kiếp địa âm- Án xà ngữ hồn

Ngũ linh – Hoàn đạo

21. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

22. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

23. Pháp nguyệt – Quy tâm, hướng Phật Đạo

Diêm Phủ Đề - Phật vị - Nhật lai

Tiếp dẫn - Ứng – Định – Tâm an

24. Tâm bất quy – Bất Nhật lai

25. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm”.

Tiếp tục chắp tay lạy 3 lạy xong rồi đọc bài lễ:

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

-                     Ứng linh Hoàn đạo, hoàn lực hậu thế, nghĩa nguồn chữ đạo.

-                     Con lạy 9 phương trời, 10 phương chư phật, chư phật 10 phương.

-                     Con lạy chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”.

Nhật nguyên: Ngày mùng 1 tết, năm 2020 (Canh tý).

Cõi trần nhân sinh, chữ nhân con cháu, dòng họ, dòng tộc “họ…”. Nối thừa tự: Con trần “họ tên người lễ”, thiên địa hợp nhân (địa chỉ nhà ở, nơi kinh doanh…), nhân sinh tâm, nhân tâm, “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo.

Dâng lễ: Thanh bông hoa quả, trầu cau, thuốc lá, xôi, thịt, rượu, cơm canh, tiền vàng địa phủ, tròn tâm. Dâng lễ ngày mùng 1 tết năm mới (Canh Tý). Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, ngưỡng vọng Đức Nguyên Linh Địa Phật. Tiếp dẫn, dẫn giải tới gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”. Đạo. Cho phép con trần được mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” được về ngự hưởng lễ vật chí tâm hành thiện, trong sự chung vui du xuân ngày tết cùng con cháu. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin phép Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”. Cho phép: Con trần “họ tên người lễ” mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”, về ngự hưởng, sum họp, lễ vật chí tâm hành thiện nồng ấm nhân gian, chung vui du xuân ngày tết cùng con cháu. Trong sự “âm – dương” đôi ngả vẹn toàn. Đạo.

 “Làn hương trầm – gió thoang thoảng”

Hoàn độ: Chữ nhân con cháu dòng họ, dòng tộc “họ…”, trở về hai chữ “Hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải năm mới trong sự: Nước chảy một dòng, thuyền xuôi một bến, thuyền trở về cập bến, bến bờ hạnh phúc nhân gian. Tiếp dẫn âm phù, dương trợ, quý nhân phù trợ, thuận cơ âm dương. Quy môn thuận. Đạo.

Nghĩa nguồn “chữ đạo”.

Hoàn độ: Con trần “họ tên người lễ”, trở về hai chữ “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải năm mới trong sự: Khai thông, thuận cơ âm dương, hoàn danh, hoàn lộc, hoàn nhân, sở hữu chữ nhân con trần. Đạo.

Trong sự: “Ngũ đạo tào khang – an khang thịnh vượng”

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất” lễ vật. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng chư Thần. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” lễ vật. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng gia tiên cửu huyền. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ” Hoàn tâm – đạo lễ.

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

 

 

BÀI 10: BÀI LỄ NGÀY MÙNG 2 TẾT TRONG NHÀ, NƠI KINH DOANH

Phần 1: Chuẩn bị nghi lễ:

- Đồ lễ: Thành tâm dâng hoa, quả, trầu cau, thuốc lá, rượu, thịt, xôi, tiền vàng địa phủ trên ban thờ thần linh và 1 mâm cơm canh gia tiên trong nhà. Vì thần linh và gia tiên địa phủ dòng họ vẫn đang tu luyện và vẫn còn chấp ngã, sân hận nên họ vẫn còn chấp vào sự chí tâm và hành động của con cháu và chúng ta. Do đó nếu chúng ta ăn mặn thì nên cúng mặn, nếu chúng ta ăn chay trường thì nên cúng chay. Tránh tình trạng chúng ta ăn mặn hay hành nghề sát sinh mà cúng chay.

- Thắp 2 tuần tuần hương, tức là châm hương lần 1 cháy gần hết rồi châm một lần nữa, mỗi lần châm là 1 hoặc 3 nén nhang.

Phần 2: Thực hiện nghi lễ:

Lên hương xong, nhất tâm đứng trước ban thờ, chắp tay 3 lạy rồi tụng 3 bài thần chú sau (đọc đủ 3 bài chú sẽ đem lại năng lượng no đủ và giúp cho chư thần cũng như gia tiên nhanh giác ngộ để luân hồi. Đồng thời hóa giải được âm binh, cô hồn trong nhà nếu có):

Tụng 3 lần bài Tịnh độ tâm:

Nam mô A Di Di Đà Phật”

 

Tụng 3 lần bài NHẬT SƯ - TÂM CHÚ:

Nam Mô Nhật Sư – Bồ Đề Tâm Phật

Kim thân – Nhật lai, khắp cõi. Độ

Ma đạo, khổ khổ, tam đọa trùng

Kim thân – Nhật lai, ứng – Hóa độ

Ma đạo - Hồi tâm, Tiếp - Ứng đạo

Nhật lai, nhật lai, nhật lai, Hoàn đạo”.

 

Tụng 3 lần bài Địa Phật Tâm Chú:

Nam Mô Nguyên Linh Địa Phật (3 lần)

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

1. Nhân sinh – Sinh tướng – Tâm biến – Tam đọa trùng

2. Phù du – Dục – Giới – Chấp – Nghiệp quấn thân

3. Cõi trần – Khổ khổ, Thiên định giới

4. Nguyên – Nghiệp rành rành Nam Tào sổ

5. Hồi tâm – Rời nghiệp, Định tâm – Thân

6. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà – Hoàn tâm

7. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

8. Trùng – Lai – Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

9. Nghiệp báo – Hiện kiếp – Quấn thân

Tà tinh – Ma đạo – Trùng trùng – Báo – Lai

10. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

11. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

12. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

13. Trùng – Lai -  Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

14. Nghiệp báo – Gia tiên – Cửu huyền

Ngã quỷ - Địa ngục – Trùng trùng – Báo – Lai

15. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Thoát tục – Trùng. Hóa

16. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

17. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

18. Nhân – Nghiệp – Lượng – Tử, bất vãng sanh

  tinh – Ma đạo, bất phân ranh

Đọa thổ - Nghiệp chướng – Chúng sinh nguy

19. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

20. Nhân – Tử - Hộ

Luận kiếp địa âm- Án xà ngữ hồn

Ngũ linh – Hoàn đạo

21. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

22. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

23. Pháp nguyệt – Quy tâm, hướng Phật Đạo

Diêm Phủ Đề - Phật vị - Nhật lai

Tiếp dẫn - Ứng – Định – Tâm an

24. Tâm bất quy – Bất Nhật lai

25. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm”.

Tiếp tục chắp tay lạy 3 lạy xong rồi đọc bài lễ:

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

-                     Ứng linh Hoàn đạo, hoàn lực hậu thế, nghĩa nguồn chữ đạo.

-                     Con lạy 9 phương trời, 10 phương chư phật, chư phật 10 phương.

-                     Con lạy chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”.

Nhật nguyên: Ngày mùng 2 tết, năm 2020 (Canh tý).

Cõi trần nhân sinh, chữ nhân con cháu, dòng họ, dòng tộc “họ…”. Nối thừa tự: Con trần “họ tên người lễ”, thiên địa hợp nhân (địa chỉ nhà ở, nơi kinh doanh…), nhân sinh tâm, nhân tâm, “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo.

Dâng lễ: Thanh bông hoa quả, trầu cau, thuốc lá, xôi, thịt, rượu, cơm canh, tiền vàng địa phủ, tròn tâm. Dâng lễ ngày mùng 2 tết năm mới (Canh Tý). Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, ngưỡng vọng Đức Nguyên Linh Địa Phật. Tiếp dẫn, dẫn giải tới gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”. Đạo. Cho phép con trần được mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” được về ngự hưởng lễ vật chí tâm hành thiện, trong sự chung vui du xuân ngày tết cùng con cháu. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin phép Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”. Cho phép: Con trần “họ tên người lễ” mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”, về ngự hưởng, sum họp, lễ vật chí tâm hành thiện nồng ấm nhân gian, chung vui du xuân ngày tết cùng con cháu. Trong sự “âm – dương” đôi ngả vẹn toàn. Đạo.

 “Làn hương trầm – gió thoang thoảng”

Hoàn độ: Chữ nhân con cháu dòng họ, dòng tộc “họ…”, trở về hai chữ “Hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải năm mới trong sự: Nước chảy một dòng, thuyền xuôi một bến, thuyền trở về cập bến, bến bờ hạnh phúc nhân gian. Tiếp dẫn âm phù, dương trợ, quý nhân phù trợ, thuận cơ âm dương. Quy môn thuận. Đạo.

Nghĩa nguồn “chữ đạo”.

Hoàn độ: Con trần “họ tên người lễ”, trở về hai chữ “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải năm mới trong sự: Khai thông, thuận cơ âm dương, hoàn danh, hoàn lộc, hoàn nhân, sở hữu chữ nhân con trần. Đạo.

Trong sự: “Ngũ đạo tào khang – an khang thịnh vượng”

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất” lễ vật. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng chư Thần. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” lễ vật. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng gia tiên cửu huyền. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ” Hoàn tâm – đạo lễ.

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

 

 

BÀI 11: BÀI LỄ NGÀY MÙNG 3 TẾT TRONG NHÀ, NƠI KINH DOANH

Phần 1: Chuẩn bị nghi lễ:

- Đồ lễ: Thành tâm dâng hoa, quả, trầu cau, thuốc lá, rượu, thịt, xôi, tiền vàng địa phủ trên ban thờ thần linh và 1 mâm cơm canh gia tiên trong nhà. Vì thần linh và gia tiên địa phủ dòng họ vẫn đang tu luyện và vẫn còn chấp ngã, sân hận nên họ vẫn còn chấp vào sự chí tâm và hành động của con cháu và chúng ta. Do đó nếu chúng ta ăn mặn thì nên cúng mặn, nếu chúng ta ăn chay trường thì nên cúng chay. Tránh tình trạng chúng ta ăn mặn hay hành nghề sát sinh mà cúng chay.

- Thắp 2 tuần tuần hương, tức là châm hương lần 1 cháy gần hết rồi châm một lần nữa, mỗi lần châm là 1 hoặc 3 nén nhang.

- Lưu ý: Tùy theo phong tục tập quán từng vùng miền và địa phương. Có vùng miền hóa tiền vàng biếu gia tiên và chư thần vào ngày 3 tết, có vùng miền hóa vào ngày mùng 7 tết. Do đó nếu hóa vào ngày nào thì làm lễ theo bài lễ hóa tiền vàng hết tết trong bài lễ “Bài 12”.

 

Phần 2: Thực hiện nghi lễ:

Lên hương xong, nhất tâm đứng trước ban thờ, chắp tay 3 lạy rồi tụng 3 bài thần chú sau (đọc đủ 3 bài chú sẽ đem lại năng lượng no đủ và giúp cho chư thần cũng như gia tiên nhanh giác ngộ để luân hồi. Đồng thời hóa giải được âm binh, cô hồn trong nhà nếu có):

Tụng 3 lần bài Tịnh độ tâm:

Nam mô A Di Di Đà Phật”

 

Tụng 3 lần bài NHẬT SƯ - TÂM CHÚ:

Nam Mô Nhật Sư – Bồ Đề Tâm Phật

Kim thân – Nhật lai, khắp cõi. Độ

Ma đạo, khổ khổ, tam đọa trùng

Kim thân – Nhật lai, ứng – Hóa độ

Ma đạo - Hồi tâm, Tiếp - Ứng đạo

Nhật lai, nhật lai, nhật lai, Hoàn đạo”.

 

Tụng 3 lần bài Địa Phật Tâm Chú:

Nam Mô Nguyên Linh Địa Phật (3 lần)

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

1. Nhân sinh – Sinh tướng – Tâm biến – Tam đọa trùng

2. Phù du – Dục – Giới – Chấp – Nghiệp quấn thân

3. Cõi trần – Khổ khổ, Thiên định giới

4. Nguyên – Nghiệp rành rành Nam Tào sổ

5. Hồi tâm – Rời nghiệp, Định tâm – Thân

6. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà – Hoàn tâm

7. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

8. Trùng – Lai – Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

9. Nghiệp báo – Hiện kiếp – Quấn thân

Tà tinh – Ma đạo – Trùng trùng – Báo – Lai

10. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

11. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

12. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

13. Trùng – Lai -  Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

14. Nghiệp báo – Gia tiên – Cửu huyền

Ngã quỷ - Địa ngục – Trùng trùng – Báo – Lai

15. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Thoát tục – Trùng. Hóa

16. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

17. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

18. Nhân – Nghiệp – Lượng – Tử, bất vãng sanh

  tinh – Ma đạo, bất phân ranh

Đọa thổ - Nghiệp chướng – Chúng sinh nguy

19. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

20. Nhân – Tử - Hộ

Luận kiếp địa âm- Án xà ngữ hồn

Ngũ linh – Hoàn đạo

21. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

22. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

23. Pháp nguyệt – Quy tâm, hướng Phật Đạo

Diêm Phủ Đề - Phật vị - Nhật lai

Tiếp dẫn - Ứng – Định – Tâm an

24. Tâm bất quy – Bất Nhật lai

25. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm”.

Tiếp tục chắp tay lạy 3 lạy xong rồi đọc bài lễ:

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

-                     Ứng linh Hoàn đạo, hoàn lực hậu thế, nghĩa nguồn chữ đạo.

-                     Con lạy 9 phương trời, 10 phương chư phật, chư phật 10 phương.

-                     Con lạy chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”.

Nhật nguyên: Ngày mùng 3 tết, năm 2020 (Canh tý).

Cõi trần nhân sinh, chữ nhân con cháu, dòng họ, dòng tộc “họ…”. Nối thừa tự: Con trần “họ tên người lễ”, thiên địa hợp nhân (địa chỉ nhà ở, nơi kinh doanh…), nhân sinh tâm, nhân tâm, “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo.

Dâng lễ: Thanh bông hoa quả, trầu cau, thuốc lá, xôi, thịt, rượu, cơm canh, tiền vàng địa phủ, tròn tâm. Dâng lễ ngày mùng 3 tết năm mới (Canh Tý). Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, ngưỡng vọng Đức Nguyên Linh Địa Phật. Tiếp dẫn, dẫn giải tới gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”. Đạo. Cho phép con trần được mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” được về ngự hưởng lễ vật chí tâm hành thiện, trong sự chung vui du xuân ngày tết cùng con cháu. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin phép Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”. Cho phép: Con trần “họ tên người lễ” mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”, về ngự hưởng, sum họp, lễ vật chí tâm hành thiện nồng ấm nhân gian, chung vui du xuân ngày tết cùng con cháu. Trong sự “âm – dương” đôi ngả vẹn toàn. Đạo.

 “Làn hương trầm – gió thoang thoảng”

Hoàn độ: Chữ nhân con cháu dòng họ, dòng tộc “họ…”, trở về hai chữ “Hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải năm mới trong sự: Nước chảy một dòng, thuyền xuôi một bến, thuyền trở về cập bến, bến bờ hạnh phúc nhân gian. Tiếp dẫn âm phù, dương trợ, quý nhân phù trợ, thuận cơ âm dương. Quy môn thuận. Đạo.

Nghĩa nguồn “chữ đạo”.

Hoàn độ: Con trần “họ tên người lễ”, trở về hai chữ “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải năm mới trong sự: Khai thông, thuận cơ âm dương, hoàn danh, hoàn lộc, hoàn nhân, sở hữu chữ nhân con trần. Đạo.

Trong sự: “Ngũ đạo tào khang – an khang thịnh vượng”

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất” lễ vật. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng chư Thần. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” lễ vật. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng gia tiên cửu huyền. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ” Hoàn tâm – đạo lễ.

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

 

 

BÀI 12: BÀI LỄ HÓA TIỀN VÀNG NGÀY 7 TẾT TRONG NHÀ,

NƠI KINH DOANH

Phần 1: Chuẩn bị nghi lễ:

- Đồ lễ: Thành tâm dâng hoa, quả, trầu cau, thuốc lá, rượu, thịt, xôi, tiền vàng địa phủ trên ban thờ thần linh và 1 mâm cơm canh gia tiên trong nhà. Vì thần linh và gia tiên địa phủ dòng họ vẫn đang tu luyện và vẫn còn chấp ngã, sân hận nên họ vẫn còn chấp vào sự chí tâm và hành động của con cháu và chúng ta. Do đó nếu chúng ta ăn mặn thì nên cúng mặn, nếu chúng ta ăn chay trường thì nên cúng chay. Tránh tình trạng chúng ta ăn mặn hay hành nghề sát sinh mà cúng chay.

- Thắp 2 tuần tuần hương, tức là châm hương lần 1 cháy gần hết rồi châm một lần nữa, mỗi lần châm là 1 hoặc 3 nén nhang.

- Trong 3 ngày tết có dâng tiền vàng thần linh, tiền vàng gia tiên và chưa đã biếu chư thần cũng như gia tiên. Do đó ngày 7 tết, con cháu làm cơm canh, lễ vật dâng lễ hết tết và biếu tiền vàng thiết nhập chư thân và gia tiên. Nếu con cháu làm lễ hóa vàng ngày 3 tết hay ngày 4, 5, 6 tết thì cũng dùng bài lễ này để hóa tiền vàng cho đúng đạo.

Phần 2: Thực hiện nghi lễ:

Lên hương xong, nhất tâm đứng trước ban thờ, chắp tay 3 lạy rồi tụng 3 bài thần chú sau (đọc đủ 3 bài chú sẽ đem lại năng lượng no đủ và giúp cho chư thần cũng như gia tiên nhanh giác ngộ để luân hồi. Đồng thời hóa giải được âm binh, cô hồn trong nhà nếu có):

Tụng 3 lần bài Tịnh độ tâm:

Nam mô A Di Di Đà Phật”

 

Tụng 3 lần bài NHẬT SƯ - TÂM CHÚ:

Nam Mô Nhật Sư – Bồ Đề Tâm Phật

Kim thân – Nhật lai, khắp cõi. Độ

Ma đạo, khổ khổ, tam đọa trùng

Kim thân – Nhật lai, ứng – Hóa độ

Ma đạo - Hồi tâm, Tiếp - Ứng đạo

Nhật lai, nhật lai, nhật lai, Hoàn đạo”.

 

Tụng 3 lần bài Địa Phật Tâm Chú:

Nam Mô Nguyên Linh Địa Phật (3 lần)

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

1. Nhân sinh – Sinh tướng – Tâm biến – Tam đọa trùng

2. Phù du – Dục – Giới – Chấp – Nghiệp quấn thân

3. Cõi trần – Khổ khổ, Thiên định giới

4. Nguyên – Nghiệp rành rành Nam Tào sổ

5. Hồi tâm – Rời nghiệp, Định tâm – Thân

6. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà – Hoàn tâm

7. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

8. Trùng – Lai – Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

9. Nghiệp báo – Hiện kiếp – Quấn thân

Tà tinh – Ma đạo – Trùng trùng – Báo – Lai

10. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

11. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

12. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

13. Trùng – Lai -  Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

14. Nghiệp báo – Gia tiên – Cửu huyền

Ngã quỷ - Địa ngục – Trùng trùng – Báo – Lai

15. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Thoát tục – Trùng. Hóa

16. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

17. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

18. Nhân – Nghiệp – Lượng – Tử, bất vãng sanh

  tinh – Ma đạo, bất phân ranh

Đọa thổ - Nghiệp chướng – Chúng sinh nguy

19. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

20. Nhân – Tử - Hộ

Luận kiếp địa âm- Án xà ngữ hồn

Ngũ linh – Hoàn đạo

21. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

22. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

23. Pháp nguyệt – Quy tâm, hướng Phật Đạo

Diêm Phủ Đề - Phật vị - Nhật lai

Tiếp dẫn - Ứng – Định – Tâm an

24. Tâm bất quy – Bất Nhật lai

25. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm”.

Tiếp tục chắp tay lạy 3 lạy xong rồi đọc bài lễ:

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

-                     Ứng linh Hoàn đạo, hoàn lực hậu thế, nghĩa nguồn chữ đạo.

-                     Con lạy 9 phương trời, 10 phương chư phật, chư phật 10 phương.

-                     Con lạy chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”.

Nhật nguyên: Ngày mùng 7 tết, năm 2020 (Canh tý).

Cõi trần nhân sinh, chữ nhân con cháu, dòng họ, dòng tộc “họ…”. Nối thừa tự: Con trần “họ tên người lễ”, thiên địa hợp nhân (địa chỉ nhà ở, nơi kinh doanh…), nhân sinh tâm, nhân tâm, “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo.

Dâng lễ: Thanh bông hoa quả, trầu cau, thuốc lá, xôi, thịt, rượu, cơm canh, tiền vàng địa phủ, tròn tâm. Dâng lễ hóa tiền vàng địa phủ thiết nhập hội đồng quan thần linh và hội đồng gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ “họ…”. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, ngưỡng vọng Đức Nguyên Linh Địa Phật. Tiếp dẫn, dẫn giải tới gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”. Đạo. Cho phép con trần được mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” được về ngự hưởng lễ vật chí tâm hành thiện của con cháu. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải, chuyển tiền vàng địa phủ, thiết nhập gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”, tròn tâm. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin phép Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”. Cho phép: Con trần “họ tên người lễ” mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”, về ngự hưởng, sum họp, lễ vật chí tâm hành thiện nồng ấm nhân gian. Đạo.

 “Làn hương trầm – gió thoang thoảng”

Hoàn độ: Chữ nhân con cháu dòng họ, dòng tộc “họ…”, trở về hai chữ “Hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải năm mới trong sự: Nước chảy một dòng, thuyền xuôi một bến, thuyền trở về cập bến, bến bờ hạnh phúc nhân gian. Tiếp dẫn âm phù, dương trợ, quý nhân phù trợ, thuận cơ âm dương. Quy môn thuận. Đạo.

Nghĩa nguồn “chữ đạo”.

Hoàn độ: Con trần “họ tên người lễ”, trở về hai chữ “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải năm mới trong sự: Khai thông, thuận cơ âm dương, hoàn danh, hoàn lộc, hoàn nhân, sở hữu chữ nhân con trần. Đạo.

Trong sự: “Ngũ đạo tào khang – an khang thịnh vượng”

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất” tiền vàng. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng chư Thần. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” tiền vàng địa phủ. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng gia tiên cửu huyền. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ” Hoàn tâm – đạo lễ.

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

 

 

BÀI 13: BÀI LỄ TIẾN THẦN NGÀY 15 THÁNG GIÊNG

(NHÀ Ở, NHÀ MÁY, NƠI SẢN XUẤT, NƠI KINH DOANH)

Phần 1: Chuẩn bị nghi lễ:

- Lễ tiến thần là lễ dâng tiến tiền vàng, lễ vật tới chư thần: Bao gồm thần linh, thần tài, thổ địa, táo quân và tứ trụ nguyên thần bốn hướng đông tây nam bắc. Lễ tiến thần là dâng lễ bằng chí tâm hành thiện với sự tri ân chư thần và mong muốn chư thần hỗ trợ, giúp đỡ điền thổ ta sinh sống được an ninh, giúp đỡ gia đạo thuận hòa, hỗ trợ xuất hành bình an, công việc được hanh thông trong cả một năm mới.

- Đồ lễ: Thành tâm dâng hoa, quả, trầu cau, thuốc lá, rượu, thịt, xôi, tiền vàng địa phủ, 5 ông ngựa giấy 5 màu (xanh, đỏ, trắng, vàng, đen) trong sân nhà (nếu không có sân thì dâng lễ tại ban thờ gia tiên và thần linh). Vì thần linh và gia tiên địa phủ dòng họ vẫn đang tu luyện và vẫn còn chấp ngã, sân hận nên họ vẫn còn chấp vào sự chí tâm và hành động của con cháu và chúng ta. Do đó nếu chúng ta ăn mặn thì nên cúng mặn, nếu chúng ta ăn chay trường thì nên cúng chay. Tránh tình trạng chúng ta ăn mặn hay hành nghề sát sinh mà cúng chay.

- Thắp 2 tuần tuần hương, tức là châm hương lần 1 cháy gần hết rồi châm một lần nữa, mỗi lần châm là 1 hoặc 3 nén nhang.

- Hóa tiền vàng khi hương chưa cháy hết, không được hóa khi hương đã cháy hết, vì khi hương còn thắp thì vong linh gia tiên và chư vị thần linh sẽ nhận được sự phát chẩn, nếu khi cháy hết hương mà hóa sẽ không nhận được sự phát chẩn của các ngài.

Lưu ý: Nếu có sân nhà thì bày lễ và lễ ngoài sân nhà rồi vào trong ban thờ gia tiên thần linh lễ bài lễ ngày 1, 15 hàng tháng. Nếu không có sân nhà thì bày lễ ở ban thờ gia tiên thần linh, đọc bài lễ tiến thần là được.

Phần 2: Thực hiện nghi lễ:

Lên hương xong, nhất tâm đứng trước mâm lễ, chắp tay 3 lạy rồi tụng 3 bài thần chú sau (đọc đủ 3 bài chú sẽ đem lại năng lượng no đủ và giúp cho chư thần cũng như gia tiên nhanh giác ngộ để luân hồi. Đồng thời hóa giải được âm binh, cô hồn trong nhà nếu có):

Tụng 3 lần bài Tịnh độ tâm:

Nam mô A Di Di Đà Phật”

 

Tụng 3 lần bài NHẬT SƯ - TÂM CHÚ:

Nam Mô Nhật Sư – Bồ Đề Tâm Phật

Kim thân – Nhật lai, khắp cõi. Độ

Ma đạo, khổ khổ, tam đọa trùng

Kim thân – Nhật lai, ứng – Hóa độ

Ma đạo - Hồi tâm, Tiếp - Ứng đạo

Nhật lai, nhật lai, nhật lai, Hoàn đạo”.

 

Tụng 3 lần bài Địa Phật Tâm Chú:

Nam Mô Nguyên Linh Địa Phật (3 lần)

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

1. Nhân sinh – Sinh tướng – Tâm biến – Tam đọa trùng

2. Phù du – Dục – Giới – Chấp – Nghiệp quấn thân

3. Cõi trần – Khổ khổ, Thiên định giới

4. Nguyên – Nghiệp rành rành Nam Tào sổ

5. Hồi tâm – Rời nghiệp, Định tâm – Thân

6. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà – Hoàn tâm

7. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

8. Trùng – Lai – Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

9. Nghiệp báo – Hiện kiếp – Quấn thân

Tà tinh – Ma đạo – Trùng trùng – Báo – Lai

10. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

11. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

12. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

13. Trùng – Lai -  Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

14. Nghiệp báo – Gia tiên – Cửu huyền

Ngã quỷ - Địa ngục – Trùng trùng – Báo – Lai

15. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Thoát tục – Trùng. Hóa

16. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

17. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

18. Nhân – Nghiệp – Lượng – Tử, bất vãng sanh

  tinh – Ma đạo, bất phân ranh

Đọa thổ - Nghiệp chướng – Chúng sinh nguy

19. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

20. Nhân – Tử - Hộ

Luận kiếp địa âm- Án xà ngữ hồn

Ngũ linh – Hoàn đạo

21. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

22. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

23. Pháp nguyệt – Quy tâm, hướng Phật Đạo

Diêm Phủ Đề - Phật vị - Nhật lai

Tiếp dẫn - Ứng – Định – Tâm an

24. Tâm bất quy – Bất Nhật lai

25. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm”.

Tiếp tục chắp tay lạy 3 lạy xong rồi đọc bài lễ:

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

-                     Ứng linh Hoàn đạo, hoàn lực hậu thế, nghĩa nguồn chữ đạo.

-                     Con lạy 9 phương trời, 10 phương chư phật, chư phật 10 phương.

-                     Con lạy tứ trụ nguyên thần nguyên khí bốn hướng đông tây nam bắc hợp nhất.

-                     Con lạy chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”.

Nhật nguyên: Ngày….tháng …năm 2020 (Canh Tý).

Cõi trần nhân sinh, chữ nhân con cháu, dòng họ, dòng tộc “họ…”. Nối thừa tự: Con trần “họ tên người lễ”, thiên địa hợp nhân (địa chỉ nhà ở, nơi kinh doanh…), nhân sinh tâm, nhân tâm, “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo.

Dâng lễ: Thanh bông hoa quả, trầu cau, thuốc lá, xôi, thịt, rượu, mã, tiền vàng địa phủ, tròn tâm. Dâng lễ tiến thần tại điển thổ tại đất. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, ngưỡng vọng chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất” cùng chư thần trong Ban giám sát hộ thần. Ngưỡng vọng Tứ trụ nguyên thần nguyên khí bốn hướng đông tây nam bắc hợp nhất. Về ngự hưởng lễ vật chí tâm hành thiện. Trong sự tri ân của con cháu dòng họ, dòng tộc “họ…” tới chư thần. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin phép Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”. Cho phép: Con trần “họ tên người lễ” mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”, về ngự hưởng, sum họp, bữa cơm nồng ấm nhân gian. Trong sự “âm – dương” đôi ngả vẹn toàn. Đạo.

 “Làn hương trầm – gió thoang thoảng”

Hoàn độ: Chữ nhân con cháu dòng họ, dòng tộc “họ…”, trở về hai chữ “Hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải năm mới trong sự: Nước chảy một dòng, thuyền xuôi một bến, thuyền trở về cập bến, bến bờ hạnh phúc nhân gian. Tiếp dẫn âm phù, dương trợ, quý nhân phù trợ, gia trạch an ninh thuận hòa, thuận cơ âm dương. Quy môn thuận. Đạo.

Nghĩa nguồn “chữ đạo”.

Hoàn độ: Con trần “họ tên người lễ”, trở về hai chữ “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải năm mới trong sự: Khai thông, thuận cơ âm dương, hoàn danh, hoàn lộc, hoàn nhân, sở hữu chữ nhân con trần. Đạo.

Trong sự: “Ngũ đạo tào khang – an khang thịnh vượng”

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”, tứ trụ nguyên thần bốn hướng đông tây nam bắc tiền vàng – mã - địa phủ. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng chư Thần. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” tiền vàng – địa phủ. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng gia tiên cửu huyền. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ” Hoàn tâm – đạo lễ.

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

 

 

BÀI 14: BÀI LỄ BÁO CÁO GIA TIÊN DÒNG HỌ KHI VỢ,

CON CÁI SINH EM BÉ

Phần 1: Chuẩn bị nghi lễ:

- Nghi lễ báo cáo gia tiên khi vợ, con cái sinh em bé là để gia tiên dòng họ dòng tộc dưới địa phủ để gia tiên biết và gia hộ cho con cháu.

- Đồ lễ: Thành tâm dâng hoa, quả, trầu cau, thuốc lá, rượu, thịt, xôi, tiền vàng địa phủ trên ban thờ thần linh và gia tiên trong nhà. Vì thần linh và gia tiên địa phủ dòng họ vẫn đang tu luyện và vẫn còn chấp ngã, sân hận nên họ vẫn còn chấp vào sự chí tâm và hành động của con cháu và chúng ta. Do đó nếu chúng ta ăn mặn thì nên cúng mặn, nếu chúng ta ăn chay trường thì nên cúng chay. Tránh tình trạng chúng ta ăn mặn hay hành nghề sát sinh mà cúng chay.

- Thắp 2 tuần tuần hương, tức là châm hương lần 1 cháy gần hết rồi châm một lần nữa, mỗi lần châm là 1 hoặc 3 nén nhang.

- Hóa tiền vàng khi hương chưa cháy hết, không được hóa khi hương đã cháy hết, vì khi hương còn thắp thì vong linh gia tiên và chư vị thần linh sẽ nhận được sự phát chẩn, nếu khi cháy hết hương mà hóa sẽ không nhận được sự phát chẩn của các ngài.

Lưu ý: Khi chúng ta đang sinh sống, con cái đang sinh sống và tồn tại thì không được nghe thầy bà nào phán là phải đội (lập) bát nhang bản mệnh. Nên nhớ là việc lập và đội bát nhang bản mệnh là mê tín dị đoan, và nó chỉ dành cho vong linh của người đã thoát tục cõi trần. Khi lập và đội bát nhang bản mệnh sẽ dễ bị tinh tà ngự vào bát nhang gây rối loạn cuộc sống gia đình và sau này.

Phần 2: Thực hiện nghi lễ:

Lên hương xong, nhất tâm đứng trước ban thờ, chắp tay 3 lạy rồi tụng 3 bài thần chú sau (đọc đủ 3 bài chú sẽ đem lại năng lượng no đủ và giúp cho chư thần cũng như gia tiên nhanh giác ngộ để luân hồi. Đồng thời hóa giải được âm binh, cô hồn trong nhà nếu có):

Tụng 3 lần bài Tịnh độ tâm:

Nam mô A Di Di Đà Phật”

 

Tụng 3 lần bài NHẬT SƯ - TÂM CHÚ:

Nam Mô Nhật Sư – Bồ Đề Tâm Phật

Kim thân – Nhật lai, khắp cõi. Độ

Ma đạo, khổ khổ, tam đọa trùng

Kim thân – Nhật lai, ứng – Hóa độ

Ma đạo - Hồi tâm, Tiếp - Ứng đạo

Nhật lai, nhật lai, nhật lai, Hoàn đạo”.

 

Tụng 3 lần bài Địa Phật Tâm Chú:

Nam Mô Nguyên Linh Địa Phật (3 lần)

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

1. Nhân sinh – Sinh tướng – Tâm biến – Tam đọa trùng

2. Phù du – Dục – Giới – Chấp – Nghiệp quấn thân

3. Cõi trần – Khổ khổ, Thiên định giới

4. Nguyên – Nghiệp rành rành Nam Tào sổ

5. Hồi tâm – Rời nghiệp, Định tâm – Thân

6. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà – Hoàn tâm

7. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

8. Trùng – Lai – Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

9. Nghiệp báo – Hiện kiếp – Quấn thân

Tà tinh – Ma đạo – Trùng trùng – Báo – Lai

10. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

11. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

12. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

13. Trùng – Lai -  Lượng kiếp, Cửu trùng – Lục căn

14. Nghiệp báo – Gia tiên – Cửu huyền

Ngã quỷ - Địa ngục – Trùng trùng – Báo – Lai

15. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Hoàn Đạo – Phủ, Cửu trùng – Lục căn. Hóa

Ngã quỷ - Địa ngục. Hóa

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Thoát tục – Trùng. Hóa

16. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

17. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

18. Nhân – Nghiệp – Lượng – Tử, bất vãng sanh

  tinh – Ma đạo, bất phân ranh

Đọa thổ - Nghiệp chướng – Chúng sinh nguy

19. Pháp nguyệt – Quy tâm, Án xà - Ứng cứu:

Ngũ Quỷ Thần – Phủ, Tà tinh – Ma đạo. Hóa

20. Nhân – Tử - Hộ

Luận kiếp địa âm- Án xà ngữ hồn

Ngũ linh – Hoàn đạo

21. Địa âm – Đất Phật, Đất Phật. An

22. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm.

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

23. Pháp nguyệt – Quy tâm, hướng Phật Đạo

Diêm Phủ Đề - Phật vị - Nhật lai

Tiếp dẫn - Ứng – Định – Tâm an

24. Tâm bất quy – Bất Nhật lai

25. Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm”.

Tiếp tục chắp tay lạy 3 lạy xong rồi đọc bài lễ:

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

-                     Ứng linh Hoàn đạo, hoàn lực hậu thế, nghĩa nguồn chữ đạo.

-                     Con lạy 9 phương trời, 10 phương chư phật, chư phật 10 phương.

-                     Con lạy chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”.

Nhật nguyên: Ngày….tháng …năm 2020 (Canh Tý).

Cõi trần nhân sinh, chữ nhân con cháu, dòng họ, dòng tộc “họ…”. Nối thừa tự: Con trần “họ tên người lễ”, thiên địa hợp nhân (địa chỉ nhà ở), nhân sinh tâm, nhân tâm, “hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo.

Dâng lễ: Thanh bông hoa quả, trầu cau, thuốc lá, xôi, thịt, rượu, tiền vàng địa phủ, tròn tâm. Lễ khai sinh con trần “họ tên cháu bé mới sinh”. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, ngưỡng vọng Đức Nguyên Linh Địa Phật. Tiếp dẫn, dẫn giải tới gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”. Đạo. Cho phép con trần được mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” được về ngự hưởng lễ vật chí tâm hành thiện. Trong sự: Báo cáo gia tiên dòng họ, dòng tộc “họ…” về sự hiện hữu chữ nhân con trần “họ tên cháu bé” tại cõi trần nhân sinh. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin phép Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất”. Cho phép: Con trần “họ tên người lễ” mời gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”, về ngự hưởng, sum họp, bữa cơm nồng ấm nhân gian. Trong sự: Báo cáo gia tiên dòng họ, dòng tộc “họ…” về sự hiện hữu chữ nhân con trần “họ tên cháu bé” tại cõi trần nhân sinh. Đạo.

 “Làn hương trầm – gió thoang thoảng”

Hoàn độ: Chữ nhân con cháu dòng họ, dòng tộc “họ…”, trở về hai chữ “Hoàn tâm – đạo lễ”. Đạo. Trong sự: Nước chảy một dòng, thuyền xuôi một bến, thuyền trở về cập bến, bến bờ hạnh phúc nhân gian. Tiếp dẫn âm phù, dương trợ, quý nhân phù trợ, thuận cơ âm dương. Quy môn thuận. Đạo.

Nghĩa nguồn “chữ đạo”.

Hoàn độ: Con trần “họ tên cháu bé”, nương tựa âm đức gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…”. Đạo. Tiếp dẫn, dẫn giải trong sự: Khai thông, thuận cơ âm dương, hoàn danh, hoàn lộc, hoàn nhân, sở hữu chữ nhân con trần. Đạo.

Trong sự: “Ngũ đạo tào khang – an khang thịnh vượng”

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Chân linh quan thần linh, chân linh quan thổ địa, chân linh quan táo quân, chân linh chư vị thần tài “điền thổ tại đất” tiền vàng – địa phủ. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng chư Thần. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ”, xin biếu Gia tiên cửu huyền thất tổ địa phủ dòng họ, dòng tộc “họ…” tiền vàng – địa phủ. Trong sự: Chí tâm hành thiện hồi hướng gia tiên cửu huyền. Đạo.

Con trần: “Họ tên người lễ” Hoàn tâm – đạo lễ.

CON NIỆM NAM MÔ A DI DI ĐÀ PHẬT (3 LẦN)

 

 

BÀI 15: BÀI LỄ ĐẦY THÁNG CHÁU BÉ MỚI SINH

Phần 1: Chuẩn bị nghi lễ:

- Nghi lễ đầy tháng là lễ đến gia tiên, đến chư thần để được gia hộ cho cháu bé trong cung số bản mệnh kiếp người. Trong nhân gian có cúng mụ, thực tế trong tâm linh không có các bà mụ nào cả, tất cả sự phát triển trí tuệ nhận thức của cháu bé là do gia đình dạy dỗ và phước báo của gia tiên cũng như của chính cháu bé.

- Đồ lễ: Thành tâm dâng hoa, quả, trầu cau, thuốc lá, rượu, thịt, xôi, tiền vàng địa phủ trên ban thờ thần linh và gia tiên trong nhà. Vì thần linh và gia tiên địa phủ dòng họ vẫn đang tu luyện và vẫn còn chấp ngã, sân hận nên họ vẫn còn chấp vào sự chí tâm và hành động của con cháu và chúng ta. Do đó nếu chúng ta ăn mặn thì nên cúng mặn, nếu chúng ta ăn chay trường thì nên cúng chay. Tránh tình trạng chúng ta ăn mặn hay hành nghề sát sinh mà cúng chay.

- Thắp 2 tuần tuần hương, tức là châm hương lần 1 cháy gần hết rồi châm một lần nữa, mỗi lần châm là 1 hoặc 3 nén nhang.

- Hóa tiền vàng khi hương chưa cháy hết, không được hóa khi hương đã cháy hết, vì khi hương còn thắp thì vong linh gia tiên và chư vị thần linh sẽ nhận được sự phát chẩn, nếu khi cháy hết hương mà hóa sẽ không nhận được sự phát chẩn của các ngài.

Lưu ý: Khi chúng ta đang sinh sống, con cái đang sinh sống và tồn tại thì không được nghe thầy bà nào phán là phải đội (lập) bát nhang bản mệnh. Nên nhớ là việc lập và đội bát nhang bản mệnh là mê tín dị đoan, và nó chỉ dành cho vong linh của người đã thoát tục cõi trần. Khi lập và đội bát nhang bản mệnh sẽ dễ bị tinh tà ngự vào bát nhang gây rối loạn cuộc sống gia đình và sau này.

Phần 2: Thực hiện nghi lễ:

Lên hương xong, nhất tâm đứng trước ban thờ, chắp tay 3 lạy rồi tụng 3 bài thần chú sau (đọc đủ 3 bài chú sẽ đem lại năng lượng no đủ và giúp cho chư thần cũng như gia tiên nhanh giác ngộ để luân hồi. Đồng thời hóa giải được âm binh, cô hồn trong nhà nếu có):

Tụng 3 lần bài Tịnh độ tâm:

Nam mô A Di Di Đà Phật”

 

Tụng 3 lần bài NHẬT SƯ - TÂM CHÚ:

Nam Mô Nhật Sư – Bồ Đề Tâm Phật

Kim thân – Nhật lai, khắp cõi. Độ

Ma đạo, khổ khổ, tam đọa trùng

Kim thân – Nhật lai, ứng – Hóa độ

Ma đạo - Hồi tâm, Tiếp - Ứng đạo

Nhật lai, nhật lai, nhật lai, Hoàn đạo”.

 

Tụng 3 lần bài Địa Phật Tâm Chú:

Nam Mô Nguyên Linh Địa Phật (3 lần)

Nam Mô Bồ Đề Tạo, Bồ Đề Hóa, Bồ Đề Tâm

1. Nhân sinh – Sinh tướng – Tâm biến – Tam đọa trùng

2. Phù du – Dục – Giới – Chấp – Nghiệp quấn thân

3. Cõi trần – Khổ khổ, Thiên định giới

4. Nguyên – Nghiệp rành rành Nam Tào sổ

5. Hồi tâm – Rời nghiệp, Định tâm – Thân